Người bạn gái kia đã báo công an sự việc trên và họ đã gửi em tôi có giấy triệu tập. Vậy tôi xin hỏi: 1. Trường hợp này Công ty luật của mình có được tham gia bào chữa nếu gia đình chúng tôi có nhu cầu thuê hay bảo lãnh em tôi trong trường hợp cần tại ngoại không. 2. Liệu với tình trạng vết thương trên thì có thể gây ra thương tật trên 11% được không vì theo tôi đọc thi từ 11% trở lên là bị tù từ 2 đến 5 năm. 3. Em tôi vì sợ hãi đã vứt con dao đó đi (ném xuống sông) vậy nếu không có hoặc không tìm ra hung khí thì có thể bị kết tội không? 4. Theo khoản 1 điều 104 luật hình sự thì trường hợp trên liệu có phải nhận hình phạt là tù từ sáu tháng đến ba năm không hay chỉ phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm vậy. (đề nghị quí công ty giải thích cặn kẽ hộ) 5. Em tôi là người Hà nội nhưng khi phạm tội lại ở Sài Gòn. Nay có giấy triệu tập thì liệu em tôi có thể không vào Sài Gòn được không vì không có điều kiện đi lại, muốn được khai tại Hà nội với cơ quan chức năng. Giả sử đi lại một lần thì được chứ ví dụ cứ tuần nào cũng phải vào đó thì thực sự không có tiền mua vé máy bay và chi phí ăn ở. Xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

 Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

  Bộ Luật Hình sự 1999  

  Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội 

 Thông tư số 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế : Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần

Nội dung phân tích:

1. Về vấn đề bảo lĩnh (bảo lãnh)

Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định như sau:

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Như vậy bất kỳ cá nhân hay tổ chức có thành viên là bị cáo/bị can đều có quyền bảo lãnh, trường hợp là cá nhân thì phải đáp ứng điều kiện theo khoản 4 Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu cá nhân bảo lãnh cho bị cáo/bị can là người thân của mình thì cần phải có hai người.

2. Về tình trạng vết thương:

Căn cứ theo bảng tỷ lệ phần trăm (%) tổn thương cơ thể ban hành kèm theo thông tư số 20/2014/TT-BYT thì: Do bạn không nói rõ việc em bạn dùng dao đâm bạn gái gây ra một vết thương nhưng với chiều rộng vết thương là bao nhiêu và chỉ áng khoảng được chiều dài nên chúng tôi sẽ chia thành các trường hợp.

 Thứ nhất: Vết thương sâu dưới 3cm, chiều rộng dưới 0,3 cm thì được xác định là Số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật từ 1-3%.

Thứ 2: Vết thương sâu 3cm, chiều rộng dưới 0,5cm và nếu ảnh hưởng đến thẩm mĩ (sẹo xơ cứng, dính, lồi, lõm, biến đổi mà da,..) thì được xác định là Số lượng sẹo ít, kích thước trung bình trở xuống, tỷ lệ thương tật từ 6-7%.

Việc kết luận chính xác tỷ lệ thương tật phải phụ thuộc vào cơ quan giám định vì vết sẹo trên thực tế chưa được biết kết quả như thế nào.

3. Về việc không tìm ra hung khí:

Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về Chứng cứ như sau:

1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Khi kết luận 1 người có tội hay không thì cơ quan điều tra cần phải tiến hành chứng minh và tìm chứng cứ là một trong những khâu quan trọng, dùng để xác định có hay không có hành vi phạm tội. Và vật chứng (dao) là một trong những chứng cứ quan trọng nhưng không phải là tất cả, tức là khi không tìm thấy dao thì tùy từng trường hợp, Tòa án vẫn có thể kết tội em bạn.

4. Về việc nhận hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm: 

Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái  pháp luật của người bị hại hoặc  người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc  công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ  trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Như vậy, tùy từng trường hợp thì em bạn có thể bị kết tội ở các khung hình phạt khác nhau và mức nặng hay nhẹ khác nhau ở trong khung hình phạt đó. Việc luật quy định có nhiều mức phạt như vậy để có thể xác định hình phạt cụ thể, công bằng; điều đó được chứng minh bởi việc người phạm tội nếu có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ thuộc điều 46 Bộ luật hình sự hoặc 1 tình tiết giảm nhẹ nhưng là người phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, không có tình tiết tăng nặng, có khả năng tự cải tạo,.. thì sẽ được Tòa án quyết định hình phạt ở mức thấp nhất.

5. Về việc cần khai tội ở đâu:

Khoản 1 Điều 171 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về Thẩm quyền theo lãnh thổ:

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Vậy em bạn thực hiện hành vi ở Sài Gòn nên Tòa án nhân dân cấp huyện (quận) tại Sài Gòn sẽ có thẩm quyền giải quyết nên em bạn không thể khia với cơ quan chức năng ở Hà Nội được.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật hình sự.