Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Nội dung tư vấn:

Luật sư có thể cho tôi hỏi 1 vấn đề về luật dân sự:.. Tình hình là tôi có 1 người bạn là sinh viên do nhẹ lòng đã bị người ta lừa đảo về vấn đề đa cấp và đã bị lừa mất 27tr vnđ kèm theo chứng minh nhân dân với thẻ sinh viên. Giờ người lừa dảo đã bỏ trốn và không thể liên lạc được với người đó. Bạn tôi giờ nó suy sụp tinh thần bận vẫn giấu gia đình về chuyện này. Bạn tôi nhờ tôi giúp về chuyện vay tiền để trả nợ những người họ đã vay nhưng theo tôi nghĩ vay tiền thôi thì có thể tôi giúp được còn việc lừa đảo sinh viên làm đa cấp tôi vẫn không muốn tình trạng đó còn tiếp diễn. Mong luật sư cho tôi 1 lời khuyên tốt nhất về vấn đề này

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 139 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đếnhai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo thông tin bạn cung cấp, hành vi của người này có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an kèm theo những chứng cứ về việc này. 

Chào luật sư ! Cho em hỏi em có vay khoản tiền của PPF là 30.000.000vn, em trả trong 12 tháng, mỗi tháng em trả 3.906.000vn, hiện e đã trả được 2 tháng, nay em không còn khả năng để trả số tiền hàng tháng là 3.906.000 ngàn, gì trước đây thu nhập của em đủ chi trả hàng tháng, nay em đã bị mất việc, và em chuyển công việc khác với thu nhập hàng tháng của em chỉ được 3.600.000vn, em đã trể hẹn với PPF 2 tháng, bên phía PPF gọi điện liên tục và nói là gửi hồ sơ của em về địa phương xử lý, vậy luật sư cho em hỏi với thu nhập hàng tháng của em không đủ chi trả theo số tiền trên, vậy em có bị kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, và em có bị kết tội hình sự ko.

Về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Theo đó, nếu bạn có hành vi gian dối hay trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay dùng số tiền vay được này vào mục đích bất hợp pháp thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Trường hợp bạn không có những hành vi trên thì bên cho vay chỉ có thể khởi kiện ra Tòa để yêu cầu bạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng.

Chào luật sư cho e hỏi .e có xe bên b hỏi mượn cắm trọng ngày trả ngay.nhưng tới 2 ngày vẫn chưa trả.rồi mượn e cái điện thoại bảo gọi về giá đình rồi đi mất luôn ko liên lạc j. Như vậy có phải lừa đảo ko ạ

 Căn cứ vào Điều 139 Bộ luật Hình sự, bạn có thể làm đơn tố cáo kèm theo các chứng cứ chứng minh gửi đến cơ quan công an để tố cáo người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Em có vấn đề cần nhờ luật sư tư vấn giúp em. Em có cho bạn trai của bạn em mượn xe để cầm vì nó nói gặp vấn đề lớn trong làm ăn và hứa 2 ngày sau sẽ trả. Nhưng người viết giấy là Em và bảo lãnh là bạn trai của bạn em, người chủ cầm đồ lại đưa tiền cho bạn em. Và mọi liên lạc qua bạn em. Nhưng mãi mà vẫn ko lấy Xe về cho em. Bây giờ em mới dc biết Xe em đã bị bán rồi. Vậy người đó có phải là lừa đảo không ạ và em phải làm như thế nào để đòi lại được công bằng cho mình ạ. Mong luật sư hãy tư vấn giúp Em với ạ.

Trước tiên bạn cần xác định xem xe này là do bên nào bán. Nếu do chủ hiệu cầm đồ bán do hết hạn trả nợ theo đúng quy định trong hợp đồng ký giữa các bên thì việc bán này là hợp pháp, bạn có quyền kiện đòi lại tài sản từ người bạn cho mượn. Còn nếu bạn của bạn là người trực tiếp bán sau khi đã lấy từ hiệu cầm đồ thì bạn có thể tố cáo đến cơ quan công an về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người này theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.