Hiện giờ em vẫn chưa có khả năng trả nên ông anh đang đòi kiện em . Cho em hỏi liệu em có bị kiện không ? Nếu có thì em mắc tội gì, có phải đi tù không ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.G.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

2. Nội dung trả lời:

Điều 326 BLDS 2005 quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.

Điều 327 BLDS 2005 quy định về hình thức cầm cố tài sản: “Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không phải là chủ sở hữu của chiếc xe. Hơn nữa, chiếc xe là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Nếu bạn có cầm theo giấy tờ xe của bạn đi nên trong trường hợp này, chỗ cầm đồ biết chắc chắn đây không phải là xe thuộc sở hữu của bạn nhưng vẫn cầm nên giao dịch cầm cố này là trái pháp luật, sẽ không có giá trị pháp lý và được xem vô hiệu. Nếu bạn không mang theo giấy tờ xe mà chỗ cầm đồ vẫn thực hiện việc cầm chiếc xe cho bạn thì giao dịch dân sự này cũng là giao dịch vô hiệu.

Theo Điều 137 Bộ luật dân sự 2005, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:

“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”

Theo đó, trong trường hợp này có hai hướng giải quyết như sau:

- Thứ nhất, bạn sẽ nói chuyện với anh bạn để thỏa thuận về việc trả lại tiền cầm chiếc xe cho cửa hàng cầm đồ và do giao dịch dân sự này vô hiệu nên theo quy định của pháp luật thì cửa hàng cầm đồ sẽ phải trả lại xe máy cho bạn.

- Thứ hai, trong trường hợp bạn không nhận được sự hợp tác anh bạn và cửa hàng cầm đồ thì anh bạn có quyền làm đơn trình báo cơ quan Công an xem xét giải quyết.

Đồng thời, anh bạn hoàn toàn có thể khỏi kiện bạn về hành vi cầm cố chiếc xe của anh ấy, dẫn đến tình trạng hiện nay không trả được chiếc xe, theo quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự 2004:

Điều 4. Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Ngoài ra, nếu hành vi của bạn thỏa mãn cấu thành tội phạm thì bạn có thể bị truy cứu TNHS về các tội sau đây:

1. Nếu ngay từ đầu bạn đã có ý định mượn xe mang cầm cố và không trả  xe cho anh bạn thì bạn có thể bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Về việc xác định hình phạt cụ thể còn phụ thuộc vào cách thức ban thực hiện tội phạm và nhân thân của bạn. Khung hình phạt của tội này là từ hạt cải tạo không giam giữ đến ba năm đến phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, ngoại ra còn bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 139.

2. Nếu khi mượn xe bạn không có ý định mang đi cầm đồ, sau đó, trong quá trình sử dụng mới xuất hiện ý định này và dẫn đến bạn không thể trả xe cho anh bạn, thì bạn có thể bị truy cứu TNHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS:

Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Khung hình phạt của tội này là từ phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm đến phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 140 BLHS.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê !

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê