Tổng giá trị cả giấy vay nợ và tài sản khoảng gần 300 triệu đồng. Sau đó người bị đánh đã làm đơn trình báo ra công an và anh tôi cùng mấy người bạn đã bị bắt. Trong quá trình điều tra tôi có nghe nói là bên công an lập hồ sơ tội cướp tài sản có tổ chức vào khoản 3 nhưng ko biết vào điều 133 hay 136 trong bộ luật hình sự. Vậy rất mong văn phòng luật sư xem giúp tội như trên tôi trình bày thì anh tôi bị vào điều 133 hay 136 trong bộ luật hình sự. Rất mong văn phòng luật sư chỉ giúp.thay mặt gia đình xin cảm ơn văn phòng luật sư.

P/s:quên mất là người bị đánh ko bị tỉ lệ % thương tích nào.

Rất mong phản hồi của văn phòng luật sư!

Người hỏi: thanglong

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999

Nội dung phân tích:

Theo như bạn trình bày thì anh bạn bắt người ta viết giấy vay nợ với số tiền là 200 triệu đồng như vậy có nghĩa là người viết giấy vay nợ không tự nguyện mà bị cưỡng ép. Theo các quy định của Bộ luật Dân sự thì giấy vay nợ này vô hiệu.

* Điều 133 Bộ luật Hình sự:

"Điều 133. Tội cướp tài sản 

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Phân tích:

- Dấu hiệu khách quan:

+ Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi dùng sức mạnh, dùng công cụ, phương tiện tác động vào người khác nhằm đè bẹp và làm tê liệt sự chống cự của người đó nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng vũ lực tác động vào người chủ tài sản hoặc người đang quản lý tài sản.

+ Hành vi dùng vũ lực đe dọa ngay tức khắc: Người phạm tội có những hành động, cử chỉ đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt tài sản, việc đe dọa có thể với chính chủ tài sản hoặc người thân, người lệ thuộc của chủ tài sản. Cần xem xét kỹ yếu tố ngay tức khắc về hoàn cảnh, về thời gian, về tương quan lực lượng…

+ Hành vi làm cho người tấn công không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản như là đầu độc, gây mê…

- Dấu hiệu chủ quan: Lỗi cố ý

"Điều 136.  Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu  thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương  tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng."

Phân tích:

- Dấu hiệu khách quan: thực hiện hành vị một cách công khai, nhanh chóng, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang rồi nhanh chóng tẩu thoát.

- Dấu hiệu chủ quan: lỗi cố ý.

Theo như bạn trình bày thì anh rể bạn "đã gọi mấy người cùng chơi xuống nhà người tổ chức đánh bạc đánh người này sau đó có lấy 1 số đồ dùng của người này" như vậy anh bạn đã sử dụng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn công không chống cự lại được nhằm chiếm đoạt tài sản của người đó. Do đó, hành vi của anh bạn đã cấu thành nên tội quy định tại điều 133 Bộ luật Hình sự tội cướp tài sản.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.