Vì quá tin người, ngày trước em và chị ấy cùng làm với nhau có chơi thân nên em không có nghi ngờ gì mà cho chị ấy mượn giấy tờ để vay trả góp, hợp đồng 9 tháng. Hiện tại chị ấy đã đóng 4 tháng, còn 5 tháng mỗi tháng phải trả là 1.314.000 đồng. 3 tháng nay chị ấy cứ đóng tiền muộn liên tiếp, đến tháng 8 đến hạn (ngày 20) chị ấy không chịu đóng, em liên lạc điện thoại không được. Như vậy em có quyền được khởi kiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ? Nếu có em phải làm những thủ tục gì? Khởi kiện tại đâu thì mới chính xác ạ? Em không cầm hợp đồng, hiện tại em chỉ có hóa đơn giao dịch ngân hàng mà em đi đóng tiền hộ cho chị ấy, em còn lưu lại tin nhắn trò chuyện giữa em và chị ấy. Liệu em có đủ chứng cớ để khởi kiện không ạ? Mong Luật sư tư vấn giúp em ạ. Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc Luật sư sức khỏe, thành công!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

Gặp rắc rối khi cho người quen mượn giấy tờ để vay trả góp ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999

Nội dung trả lời:

Theo những thông tin bạn cung cấp, thì còn 2 tháng trả góp chị M chưa thanh toán, nghĩa là với cương vị là người kí hợp đồng, bạn phải trả số tiền là 2.628.000đ. về cách thức giải quyết, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

- Trước hết bạn hãy tìm mọi cách để liên lạc với chị M, có thể qua bạn bè, người quen,... Trong trường hợp gặp được chị M, bạn hãy yêu cầu chị ấy trả lại số tiền bạn đã đóng thay là 2.628.000đ. Cần có biện pháp lưu giữ bằng chứng như ghi âm, quay phim, nhờ người làm chứng,...

- Trong trường hợp không thể liên lạc và gặp được chị M, thì bạn cần có biện pháp khác. Việc trốn tránh không trả tiền có rất nhiều lí do, có thể chị M không cố ý lừa đảo bởi chị M cũng đã đóng tiền 7/9 tháng, số tiền còn lại cũng không quá lớn, có thể do gặp khó khăn nhưng sợ hãi nên trốn, cũng có thể chị M đã có ý định lừa đảo ngày từ đầu. Với số tiền trên 2 triệu thì cũng đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Bạn nên gửi đơn lên cơ quan công an cấp xã (phường) nơi chị M cư trú để thuận tiện nhất cho việc điều tra. Với những chứng cứ bạn đưa ra thì có thể sẽ được công nhận nếu chứng cứ là hợp pháp và rõ ràng.

Bộ luật hình sự quy định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự.