1. Gây ra tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê! Tôi xin quí công ty tư vấn giúp tôi một số việc sau: ngày 2/3/2016 chồng tôi có điều khiển chiếc xe tải 8 tấn ,đang vượt 1 xe container thì có 1 người đi xe máy đi ngược chiều mất lái đâm vào hàng bánh sau xe chồng tôi dẫn đến bị thương nặng: phải căt 1 cánh tay , gãy 1 chân.

Nhưng vụ tai nạn này được xác định là vụ tai nạn tổng hợp vì : khi lái xe tải vượt thì có vi phạm lấn đường (còn không vi phạm gì khác) còn bị nạn mất lái tự đâm vào xe tải. Sau khi vụ tai nạn xảy ra gia đình tôi có hỏi han thăm nom bị nạn chu đáo và bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị nạn. Gia đình bị nạn đã làm đơn Từ chối giám định thương tật và đơn Không truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng cho đến nay 21/6 bị nạn còn chưa ra viện . Vậy quí công ty cho tôi hỏi chồng tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ? Với lỗi vi phạm trên chồng tôi sẽ bị phạt hành chính như thế nào? Cơ quan công an giữ bằng lái xe trong bao lâu ? Và cơ quan công an nói :chờ bị nạn ra viện để giám định thương tật mới giải quyết vụ việc là đúng hay sai ?

Rất mong quí công ty tư vấn giúp tôi. Xin trân thành cảm ơn! 

Gây ra tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọị: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Hành vi của chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trong đó một số thuật ngữ được giải thích cụ thể tại điều 2, điều 3 Thông tư liên lịch số T09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC như sau

Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

2. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 3 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết hai người;

b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

3. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 204; khoản 3 các điều 202, 203, 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220, Điều 222, Điều 223; khoản 4 các điều 206, 207, 216, 218, 219 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết từ ba người trở lên;

b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;

g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên.

Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự)

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 227 Bộ luật hình sự.

2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Trường hợp của chồng bạn đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại điều 202, do đã có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn vì vậy tùy theo thiệt hại mà chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 hay khoản 3. 

Về việc bị hại đã có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự thì đây không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự khi không có yêu cầu của người bị hại như các trường hợp quy định cụ thể tại điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Về việc tai nạn xảy ra do lỗi hỗn hợp sẽ giúp gia đình bạn xác định trách nhiệm bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự là đền bù tương ứng với lỗi của mình. 

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù người bị hại đã có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự, thì khi xét thấy có dấu hiệu của tội phạm được quy định tại Điều 202   Bộ luật hình sự  (tỷ lệ thương tật cho nạn nhân từ 31% trở lên) thì cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể truy cứu trách nhiệm đối với hành vi của chồng bạn. Việc gia đình bạn chủ động khắc phục hậu quả, phía bên người bị hại cũng có yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì đây là những căn cứ để chồng bạn được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu bị truy cứu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>>  Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông gây chết người thì bị khởi tố bao nhiêu năm tù ?

2. Tư vấn nhận lại xe bị tạm giữ vì tai nạn giao thông?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Cách đây khoảng 3 tháng, tôi có bị tai nạn giao thông do va chạm với xe máy đi cùng chiều đột ngột dừng lại để qua đường. 

Tôi đã ngã xuống đập đầu và bất tỉnh do bị mất nhiều máu. Công an giao thông có đến giải quyết và tạm giữ xe của tôi. Trong lúc tôi bất tỉnh đã bị mất toàn bộ giấy tờ xe để trong túi áo (gồm giấy photo cavet xe, và giấy mua bán xe bằng giấy viết tay, xe này đăng ký ở Bình Dương). Sau 3 tháng tôi có lên công an quận 12 để nhận xe nhưng họ không cho lấy xe và bảo đang chờ xét, và bị lỗi không giữ khoảng cách với xe đi trước. Như vậy có đúng với luật không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.L

Tư vấn nhận lại xe bị tạm giữ vì tai nạn giao thông?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hạgọi số:1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 12 Luật Giao thông đường bộ 2008: Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

Qua kiểm tra, cơ quan công an đã xác định bạn vi phạm khoảng cách giữa hai xe nên bạn có lỗi trong vụ tai nạn này.

Điều 16 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính  về Trình tự, thủ tục khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu

1. Khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu, người được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản có trách nhiệm:

a) Kiểm tra quyết định trả lại hoặc quyết định chuyển tang vật, phương tiện đó; kiểm tra Chứng minh nhân dân và giấy tờ khác có liên quan của người đến nhận;

b) Yêu cầu người đến nhận lại tang vật, phương tiện đối chiếu với biên bản tạm giữ để kiểm tra về chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, đặc điểm, hiện trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu dưới sự chứng kiến của cán bộ quản lý. Việc giao, nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải được lập thành biên bản;

c) Trường hợp chuyển tang vật, phương tiện đó cho cơ quan điều tra, tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc hội đồng bán đấu giá hoặc cơ quan giám định thì người quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu phải lập biên bản về số lượng, khối lượng, trọng lượng, chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ, tình trạng của tang vật, phương tiện. Biên bản được lập thành hai bản có chữ ký của bên giao và bên nhận, mỗi bên giữ một bản;

d) Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng thì cơ quan đã ra quyết định tịch thu chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp tổ chức chuyển giao cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

2. Người quản lý, bảo quản chỉ thực hiện việc trả lại hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu khi có đầy đủ các thủ tục theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này.

3. Tang vật, phương tiện khi đã được đưa ra khỏi nơi tạm giữ thì người nhận tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm về sự mất mát, thay đổi đối với tang vật, phương tiện đó.

Như vậy, khi có Quyết định trả lại tang vật thì bạn mới được nhận lại xe. Hơn nữa, theo sự kiểm tra của công an đã xác định bạn cũng có lỗi không giữ khoảng cách với xe đi trước để xảy ra tai nạn nên phương tiện của bạn là phương tiện gây ra tai nạn giao thông và không được đặt tiền bảo lãnh để lấy xe ra ngay theo quy định tại điểm c khoản 5 điều 15 Nghị định 115/2013:

Điều 15 Nghị định 115/2013/NĐ-CP: Đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

5. Các trường hợp không được đặt tiền bảo lãnh:

a) Phương tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự;

b) Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm;

c) Phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông;

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông gây chết người thì bị khởi tố bao nhiêu năm tù ?

 

3. Thẩm quyền của công an xã khi có tai nạn giao thông xảy ra ?

Thưa luật sư, tôi muốn hỏi: Thẩm quyền của công an xã khi có tai nạn giao thông xảy ra ? 

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: P.Đại

Thẩm quyền của công an xã khi có tai nạn giao thông xảy ra  ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6162

 

Trả lòi:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ theo quy định tại điều 7, Thông tư 47/2011/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/03/2010 quy định việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết như sau:

"Điều 7. Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã

1. Bố trí lực lượng tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông theo kế hoạch.

2. Thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo sự phân công trong kế hoạch.

3. Trường hợp không có lực lượng Cảnh sát giao thông đi cùng thì lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Lực lượng Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường liên xã, liên thôn thuộc địa bàn quản lý và xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông sau: điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh; đỗ xe ở lòng đường trái quy định; điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả, không có gương chiếu hậu hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luật và các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ như họp chợ dưới lòng đường, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông. Nghiêm cấm việc Công an xã dừng xe, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ."

Và điều 11 Thông tư 12/2010/TT-BCA quy định cụ thể thi hành một số điều của Pháp lệnh công an xã và Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh công an xã về nhiệm vụ, quyền hạn của công an xã:

"Điều 11. Tham gia phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông

1. Công an xã có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp có kế hoạch tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân chấp hành đúng các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa); tham gia phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn xã. Việc tham gia phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của Công an cấp trên.

2. Nghiêm cấm Công an xã tùy tiện đặt ra các quy định riêng trái với quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông hoặc tùy tiện ngăn chặn, kiểm soát, gây khó khăn, cản trở cho người và phương tiện tham gia giao thông."

Như vậy, công an xã chỉ có nhiệm vụ ổn định trật tự; thông báo, thống kê tai nạn giao thông. Do đó, công an xã không được vẽ sơn và di chuyển xe đi khi hiện trường tai nạn giao thông chưa được cơ quan công an có thẩm quyền phong tỏa.

Người thân của người bị tai nạn  được hỏi những vấn đề chưa rõ ở công an xã nếu công an xã biết được thông tin về vụ tai nạn giao thông và như vây không bị coi là cản trở người thi hành công vụ bởi lẽ chống người thi hành công vụ là hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong BLHS và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. cụ thể:

- Hình sự: 

Theo Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về Tội chống người thi hành công vụ được quy định như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.”

-Hành chính:

Để hướng dẫn thi hành quy định xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự,an toàn xã hội được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thi theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP tại Điều 20 quy định:

Điều 20. Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;

c) Xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ;

b) Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ;

c) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều này.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, hi vọng sẽ giải quyết được thắc mắc của ban. Cảm ơn bạn đã tin tưởng chúng tôi!

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông mới nhất

4. Trách nhiêm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông ?

Chào các anh chị ! Em có một vấn đề cần giải đáp, mong các anh chị tư vấn giúp: Em là một tài xế taxi, vào tối 26/6/2015 xe taxi đang chuyển huớng qua đuờng thì bị một xe môtô 250 phân khối chạy cùng chiều tông vào sau đuôi xe phía bên tài (xe mô tô do một thanh niên điều khiển). 

Hậu quả gây tai nạn giao thông. Người lái xe moto bị gãy xương bàn tay, xe taxi hỏng nặng, xe môtô hỏng nhẹ. Sau khi hoàn tất thủ tục hồ sơ, công an kết luận bên xe môtô sai: xe không có giấy tờ, ko có bằng A2 theo luật đinh, điều khiển xe trong trạng thái say, đi xe với tốc độ quá nhanh. Đã gây tai nạn. Công an yêu cầu xe môtô lên giải quyết nhưng phía xe mo to không hợp tác và còn có ý bỏ luôn xe không lấy nữa. Do bên taxi không có lỗi nên bảo hiểm không chịu đền bù, tiền sửa xe taxi hết 13 triệu. Sau rất nhiều lần em lên cơ quan công an làm việc nhưng đến nay ngày 16/7 em vẫn chưa được làm thủ tục để lấy bằng lái và giấy tờ xe ra để đi làm lại. Vậy trường hợp của em cần phải làm những trình tự thủ tục như thế nào và thời gian bao lâu em có thể nhận bằng và đi làm được. Số tiền sửa xe taxi bên nào phải đền bù, (bên xe môtô không đồng ý thoả thuận và bỏ xe không lấy ra nữa).

Kính mong anh chị tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

Trách nhiêm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA ban hành quy trình điều tra xử lý vi phạm giao thông

- Bộ Luật dân sự năm 2005

- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

2. Nội dung phân tích:

Về việc tạm giữ phương tiện được quy định tại Điều 10 Quyết định18/2007/QĐ-BCA như sau:

" 1. Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:

a) Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùng với hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền;

c) Trường hợp tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì phương tiện giao thông bị tạm giữ được xử lý như sau:

- Đối với vụ tai nạn sau khi khám nghiệm phương tiện xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi thì phương tiện phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện;

- Các trường hợp khác việc tạm giữ phương tiện phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

2. Tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông:

- Việc tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

- Khi tạm giữ người, cần thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người bị tạm giữ."

Như vậy, trong trường hợp này, khi CSGT xác định không có dấu hiệu tội phạm thì CSGT phải trả phương tiện cho bạn theo quy định của pháp luật. 

Về thời hạn tạm giữ phương tiện:

Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì:

"  Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này."

Vậy, cơ quan điều tra chỉ có quyền giữ giấy phép lái xe và giấy tờ xe của bạn trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tạm giữ. Nếu vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần tiến hành xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày kể từ ngày tạm giữ. Nếu quá thời hạn này bạn có thể khiếu nại lên cơ quan công an để được giải quyết.

Thứ hai, Về việc bồi thường thiệt hại:

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 605 Bộ Luật dân sự như sau:

" 1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được quy định tại khoản 4 Điều 17 Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA như sau:

" 4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường:

- Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính;

- Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự."

Như vậy, trong trường hợp bên gây tai nạn cho bạn nhất quyết không hợp tác thì bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án dân sự để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vi phạm tai nạn giao thông gây hậu quả chết người xử lý ra sao?

5. Mức bồi thường tai nạn giao thông ?

Kính thưa luật sư, Cháu có câu hỏi kính mong luật sư trả lời giúp cháu với ạ: chồng cháu điều khiển xe ô tô (đi mượn) do lỗi không chú ý quan sát khi sang đường đã va chạm với 1 xe máy đi ngược chiều, làm nạn nhân bị gãy chân, tỉ lệ thương tật là 35%, và 1 xe máy đã cũ có thời gian sử dụng trên 10 năm rồi. 

Gia đình họ đòi bồi thường 100tr đồng nhưng hoàn cảnh kinh tế nhà cháu rất khó khăn,chỉ có mình chồng cháu đi làm, thu nhập quân 5tr/1 tháng, cháu có 2 con nhỏ, 1 đứa 4 tuổi và 1 đứa 4 tháng tuổi. Khi tai nạn xảy ra chồng cháu cũng bị thương nên cháu phải chăm sóc cho chồng nên không đi theo nạn nhân khi chuyển viện lên tuyến trên được. Sau đó cháu có lên thăm hỏi và chuyển cho nạn nhân được 20tr đồng. Cháu xin hỏi là: - khi bị truy tố thì chồng cháu bị xử phạt như thế nào ạ? mức phạt tù nhiều nhất là bao nhiêu ? Khi chồng cháu mà bị đi tù thì có phải đền bù bằng tiền nữa không? vì chồng cháu là lao động chính, cháu không có công việc ổn định.

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Mức bồi thường tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b)  Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao  Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì: “4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự được quy định như sau:

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

Bạn không chú ý quan sát khi sang đường đã va chạm với 1 xe máy đi ngược chiều, làm nạn nhân bị gãy chân, tỉ lệ thương tật là 35% - gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe người bị tai nạn. Như vậy, trường hợp của bạn đã đủ dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS. Theo đó khi bị truy tố chồng bạn có thể bị xử phạt từ bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm. Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên hình phạt đối với chồng bạn là phạt tiền hay phạt tù, nếu là phạt tù thì mức phạt tù cao nhất mà có thể chồng bạn phải gánh chịu là 5 năm tù.

Ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định trên thì chồng bạn còn phải chịu trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân các chi phí được quy định tại Điều 608, 609  Bộ luật dân sự 2005 như sau:

Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Theo đó chồng bạn phải bồi thường cho nạn nhân chi phí sửa chữa xe, chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của nạn nhân...Như vậy kể cả trong trường hợp chồng bạn phải đi tù thì vẫn phải chi trả khoản tiền bồi thường này cho nạn nhân.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

>> Xem thêm:  Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông ?

 

6. Tư vấn xác định lỗi trong tai nạn giao thông ?

Chào luật sư.tôi muốn nhờ văn phòng luật sư tư vấn giúp tôi một việc như sau : Tôi điều khiển xe container đang lưu thông trên đường lúc đó là 23h thì xe của tôi gặp sự cố cháy hết đèn pha tôi bật đèn cảnh báo nguy hiểm cho người tham gia giao thông phía sau biết và đã dừng lại sát mép đường bên phải. 

Nơi tôi dừng xe không thuộc phạm vi cấm dừng đỗ, tôi xuống kiểm tra, kiểm tra được vài phút thì lên xe chuẩn bị đi thì tôi có nhìn thấy một thanh niên và xe máy ngã vượt qua đầu xe của tôi tôi hốt hoảng mở cửa xe nhảy xuống hô hào mọi người đưa người tai nạn đi cấp cứu trong lúc đó có một số người dân ở đó có nói với tôi là đi đi không tắc đường thế là tôi lên xe đi tiếp cho đến 14h ngày hôm sau tôi được biết công an tìm gặp và yêu cầu tôi đưa xe về nơi người bị tai nạn hôm trước làm việc, và công an đã nói là có người làm chứng xe máy bị nạn đã va chạm vào sườn bên lái xe của tôi. Vậy kính mong văn phòng luật sư tư vấn giúp tôi xem tôi đã vi phạm điều luật nào của người điều khiển xe ôtô tham gia giao thông ?

Tôi xin trân thành cảm ơn!

 

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Trả lời:

Kính chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau: 

Căn cứ Luật giao thông đường bộ 2008 

"Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.

2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ."

"Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau đây:

1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định."

Đối với trường hợp của bạn là dừng xe trên đường phố, theo như thông tin bạn cung cấp bạn đã  bật đèn cảnh báo nguy hiểm cho người tham gia giao thông phía sau biết và đã dừng lại sát mép đường bên phải. Như vậy nếu nơi bạn dừng xe không thuộc vào một trong các nơi quy định tại khoản 4 Điều 18 và khoản 2 Điều 19 thì căn cứ theo Điều 18, 19 Luật Giao thông việc bạn dừng xe sẽ đúng với quy định của pháp luật và bạn sẽ không có lỗi khi nam thanh niên đi xe máy va ngã vượt qua đầu xe của bạn tự gây tai nạn, việc cơ quan công an tìm gặp và yêu cầu bạn đưa xe về địa điểm tai nạn nhằm giúp điều tra làm rõ sự việc, sau khi xác minh lại vụ việc bạn có thể cho xe về bình thường. 

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự  - Công ty luật Minh Khuê