Nhưng người hàng xóm đó đã làm giả chữ ký của anh em trong gia đình để nhận tiền đặt cọc của tôi. Và tôi phát hiện là chưa có sự thống nhất cua anh em người hàng xóm đó, tôi quyết định lấy lại tiền đặt cọc nhưng người hàng xóm đo không chịu trả. Xin hỏi? Với hành vi trên của nguời hàng xóm đã vi phạm vào tội lừa đảo hay chưa xin luật sư cho biết. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Mk

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sựcủa công ty Luật Minh Khuê.

.Giả chữ ký người thân bán đất có phải có phạm tội lừa đảo ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Theo các dữ liệu bạn cung cấp, thay mặt cho công ty luật Minh Khuê, tôi xin trả lời câu hỏi như sau:

Theo Điều 139 Bộ luật hình sự quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Trong trường hợp của bạn, người hàng xóm của bạn đã làm giả chữ ký của anh em trong gia đình để nhận tiền đặt cọc của bạn, người đó có dấu hiệu của việc phạm tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật này. Bạn có thể làm đơn trình báo ra cơ quan công an quận/Huyện để thu thập thêm chứng cứ củng cố tội danh này.

 

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi những thắc mắc cho chuyên mục, dựa vào những dữ liệu bạn cung cấp tôi có thể trả lời bạn như sau:

Căn cứ pháp ly: luật hình sự năm 1999, nghị quyết 02/2004/NQ-HDTP.

Hành vi của người hàng xóm đã vi phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Căn cứ vào điều 139 luật hình sự năm 1999 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Vì bạn không nói rõ số tiền đặt cọc là bao nhiêu và số tiền bán đất là bao nhiêu nên có thể chia các trường hợp sau:

- Nếu tiền đặt cọc dưới 500 nghìn đồng thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tiền đặt cọc từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

- Tiền đặt cọc từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

- Tiền đặt cọc từ năm trăm triệu đồng trở lên phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Về vấn đề hợp đồng:

Theo điểm đ tiểu mục 2.1 mục 2 nghị quyết 02/2004/NQ-HDTP : “. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà toàn bộ hoặc một phần nội dung của hợp đồng vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần và việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 137, Điều 146 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 này.”
Theo đó bên vi phạm hợp đồng sẽ phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc và phải bồi thường cho lỗi làm hợp đồng vô hiệu.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

-------------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: