Bạn tôi đang gặp phải vấn đề vì quá rối trí nên không biết hỏi ai, có tâm sự với tôi nhưng tôi cũng không biết hướng giải quyết như thế nào, vậy nhờ các anh chi tư vấn giúp: Bạn tôi có làm môi giới bán giống lúa cho 1 HTX (giống lúa này đã có bản quyền) số lượng 1360 kg nói thêm là số thóc nói trên không có bao bì nhãn mác gì cả. Lúc đầu giao dịch là không có giấy tờ gì cả chỉ là mua thóc, nhưng khi HTX bán thóc cho nông dân bị Cty có bản quyền giống thu giữ, vì lo sợ mất số hàng nói trên, HTX có nhờ bạn tôi xin phiếu thu, phiếu xuất kho và kiểm nghiệm để hợp thức hóa nguồn gốc hàng hóa. Bạn tôi tin tưởng HTX vì đã giao dịch nhiều với nhau nên không nghĩ ngợi gì, bạn tôi có xin 1 bộ phiếu xuất kho , phiếu thu có dấu đỏ đóng sẵn của HTX khác của 1 người bạn chưa viết gì (Phiếu trắng có dấu đỏ).

Bạn tôi có viết vào phiếu xuất kho phiếu thu như sau 1360 x 50,000 d = 68,000,000 đ , nhưng bạn tôi viết tên người khác bán hàng. phiếu kiểm nghiệm bạn tôi lại làm vu vơ 1 phiếu cát dán của nhiều đơn vị vào 1 phiếu là photo không có dấu đỏ. Sau đó gửi cho HTX, HTX lại trinh lên cơ quan chức năng, nhưng họ điều tra ra giấy tờ đó là giả. Bạn tôi cũng không thu lợi gì từ hoạt động giao dich giấy tờ đó. Sau đó HTX có khai ra bạn tôi là người cung cấp giấy tờ trên, công an có đến điều tra, bạn tôi đang rất lo sợ có bị truy cứu trách nhiệm hinh sự không về tội làm giấy tờ giả? Với tình tiết như vậy bạn tôi vi phạm như thế nào, nếu xử lý sẽ bị làm sao? Rất mong luật gia giải đáp giúp Vê phía HTX đã thu hồi toàn bộ lô hàng nói trên và mua 1360 kg thóc giống của Cty phát lại cho dân. Tôi xin chân thành cám ơn. 

Người gửi: Long

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Giải đáp khúc mắc về tội làm giả giấy tờ ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162       

Trả lời:

 

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi.  Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999

Luật Thương mại năm 2005

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Nghị định số 88/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng

Nội dung trả lời:

1.Căn cứ vào Điều 267 Bộ luật Hình sự có quy định như sau:

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c)  Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi  triệu đồng.

Như vậy hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức cấu thành tội phạm khi hành vi đó được thực hiện nhằm mục đích che dấu cơ quan, tổ chức hoặc công dân. Với quy định đó của pháp luật thì chỉ dừng lại ở mục đích của hành vi là che dấu cơ quan, tổ chức hoặc công dân mà chưa thể hiện là việc che dấu đó để nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật hay thực hiện hành vi mà pháp luật không cấm hoặc có lợi cho xã hội. Nghĩa là có hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức và mục đích là để che dấu cơ quan, tổ chức hoặc công dân là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cấu thành của tội phạm này không đòi hỏi chủ thể phải có mục đích nhằm lừa dối " cơ quan, tổ chức hoặc công dân" thì mới cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên theo thông tin bạn đưa ra thì bạn của bạn thực hiện hành vi này không nhằm mục đích lừa dối đối với các chủ thể khác. Hành vi của bạn của bạn chưa đủ cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật.

2. Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì người bạn của bạn thực hiện hành vi môi giới bán lúa giống cho hợp tác xã, theo Điều 150 Luật Thương mại có quy định như sau:

Điều 150. Môi giới thương mại

Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.

Như vậy hành vi mua bán hàng hóa này để xác định được có phải là môi giới trong mua bán hàng hóa hay không thì phải căn cứ vào: chủ thể thực hiện hành vi môi giới bắt buộc phải là thương nhân (quy định như trên); việc thực hiện hành vi môi giới phải lập thành hợp đồng môi giới ( pháp luật không quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng); bên môi giới thực hiện công việc nhất định (ví dụ: tìm kiếm khách hàng, cung cấp thông tin, giới thiệu hai bên được môi giới và khách hàng gặp mặt,...). Như vậy có thể thấy rằng bạn của bạn không phải thực hiện hoạt động môi giới. Trường hợp của bạn không phải hoạt động môi giới trong thương mại.

 Đồng thời loại hàng hóa mà bạn của bạn bán cho hợp tác xã là giống cây trồng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì giống cây trồng được bảo hộ, việc bạn của bạn tự ý bán và không có nhãn hiệu trên bao bì sản phẩm như vậy là vi phạm quy định tại Điều 188 và Điều 186 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể:

Điều 188. Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng

Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ bằng bảo hộ: 

1. Khai thác, sử dụng các quyền của chủ bằng bảo hộ mà không được phép của chủ bằng bảo hộ;

2. Sử dụng tên giống cây trồng mà tên đó trùng hoặc tương tự với tên giống cây trồng đã được bảo hộ cho giống cây trồng cùng loài hoặc loài liên quan gần gũi với giống cây trồng đã được bảo hộ;

3. Sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ mà không trả tiền đền bù theo quy định tại Điều 189 của Luật này.

Điều 186. Quyền của chủ bằng bảo hộ

1. Chủ bằng bảo hộ có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các quyền sau đây liên quan đến vật liệu nhân giống của giống đã được bảo hộ:

a) Sản xuất hoặc nhân giống;

b) Chế biến nhằm mục đích nhân giống;

c) Chào hàng;

d) Bán hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận thị trường khác;

đ) Xuất khẩu;

e) Nhập khẩu;

g) Lưu giữ để thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này. 

2. Ngăn cấm người khác sử dụng giống cây trồng theo quy định tại Điều 188 của Luật này.

3. Để thừa kế, kế thừa quyền đối với giống cây trồng và chuyển giao quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại Chương XV của Luật này.

Như vậy giống lúa đó đã được đăng kí bản quyền nên khi bạn của bạn thực hiện hành vi tự ý mua, bán thì hành vi này thuộc vào quy định tại Khoản 1 Điều 188 ( như trên). Đối với hành vi vi phạm này sẽ bị xử lí như sau:

Điều 199. Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.

2. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đối với từng trường hợp cụ thể sẽ được giải quyết theo những biện pháp khác nhau. Do thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi chưa rõ ràng và cụ thể bạn có thể tham khảo thêm trong Chương XVII và Chương XVIII của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật Hình sự.