Tình huống: Ngày 2/10/2010, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản của người không quen biết (tài sản giá trị 49 triệu đồng-thuộc khoản 1 điều 138 BLHS) nhưng không bị phát hiện. Ngày 5/10/2012, H lại phạm tội cướp giật tài sản (thuộc khoản 4 điều 136 BLHS) bị phát hiện và công an bắt giữ H. Vậy em muốn hỏi là:

1. Các loại tội phạm mà H thực hiện thuộc loại tội phạm nào theo cách phân loại tôi phạm tại Khoản 3 Điều 8 BLHS?

2. Nếu H thực hiện cả 2 tội trên khi mới 17 tuổi thì hình phạt của H có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù?

3. Giả định H bị xét xử hai tội phạm nêu trên. Tội trộm cắp tài sản bị tòa tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ; Tội cướp giật tài sản bị Tòa tuyên phạt 15 năm tù thì hình phạt mà H phải chấp hành cho cả hai tội này là bao nhiêu? Biết rằng H đã bị tạm giam 4 thàng về tội cướp giật tài sản.

4. Giả sử H phạm tội cướp giật tài sản bị truy tố theo khoản 1 Điều 136 BLHS và tội trộm cắp như tình huống trên thì H có khả năng được hưởng án treo không? Giải thích rõ vì sao?

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP

2. Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất, về các loại tội phạm mà H thực hiện thuộc loại tội phạm nào theo cách phân loại tôi phạm tại Khoản 3 Điều 8 BLHS

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự có quy định:

"Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."

Trong tình huống bạn có trình bày 

+, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản của người không quen biết (tài sản giá trị 49 triệu đồng-thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS). Theo khoản 1 Điều 138. Tội trộm cắp tài sản quy định:

Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Mức cao nhất của khung hình phạt này là đến ba năm tù cho nên tội trộm cắp tài sản đó là tội phạm ít nghiêm trọng.

+, Nguyễn Văn H  H lại phạm tội cướp giật tài sản (thuộc khoản 4 Điều 136 BLHS) bị phát hiện và công an bắt giữ H. Theo khoản 4 Điều 136 BLHS. Tội cướp giật tài sản quy định:" Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.". Mức cao nhất của khung hình phạt này là tù chung thân cho nên tội cướp giật tài sản là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Thứ hai, về việc nếu H thực hiện cả 2 tội trên khi mới 17 tuổi thì hình phạt của H có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù

 Theo quy định tại Điều 50. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1.  Đối với hình phạt chính :

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều  này;

c)  Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d)  Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e)  Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

Vì hai tội mà H vi phạm có hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân. Nhưng H thực hiện cả 2 tội trên khi mới 17 tuổi nên áp dụng Điều 74. Tù có thời hạn

 Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư  mức phạt tù mà điều luật quy định;

Vì vậy nếu phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù.

- Thứ ba, về việc giả định H bị xét xử hai tội phạm nêu trên: tội trộm cắp tài sản bị tòa tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ; tội cướp giật tài sản bị Tòa tuyên phạt 15 năm tù thì hình phạt mà H phải chấp hành cho cả hai tội này là bao nhiêu? Biết rằng H đã bị tạm giam 4 tháng về tội cướp giật tài sản.

Theo quy định tại Điều 33.BLHS "Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù."

và tại Điều 50. BLHS" Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều  này".

Như vậy  tội trộm cắp tài sản bị tòa tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ sẽ được chuyển thành 1 năm phạt tù để tổng hợp với tội cướp giật tài sản bị Tòa tuyên phạt 15 năm tù thành 16 năm tù. Tuy nhiên H đã bị tạm giam 4 tháng về tội cướp giật tài sản, nên thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Vậy hình phạt mà H phải chấp hành cho cả hai tội này là 15 năm 8 tháng.

-Thứ tư, về việc giả sử H phạm tội cướp giật tài sản bị truy tố theo khoản 1 Điều 136 BLHS và tội trộm cắp như tình huống trên thì H có khả năng được hưởng án treo không

Điều 136. Tội cướp giật tài sản quy định" Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm".

 Theo khoản 1 Điều 138. Tội trộm cắp tài sản quy định:" Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn, chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì.
Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.
c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.
d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

Như vậy,nếu với hai tội trên mà khi tổng hợp hình phạt mà tòa án tuyên không quá 3 năm và thỏa mãn các điều kiện trên thì H có thể hưởng án treo. Còn nếu khi tổng hợp hình phạt về hai tội trên tòa án tuyên trên 3 năm thì H sẽ không được hưởng án treo.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê