Người nhà em có đưa đi bệnh viện, đên viện thì người nhà của phụ nữ kia giũ xe người nhà em lại và chứng minh thư nói là làm tin và không báo chính quyền. Nhưng đã lâu sau sự việc gia đình em có gọi điện hỏi thăm qua người đại diện bên họ và liên lạc nhiều lần xin gặp để giải quyết vụ việc và lấy xe về nhưng đều bị chửi bới và từ chối gặp. Đặc biệt có người gọi điện đến chửi bới đe doạ. Vp luật sư cho em hỏi từ việc như trên thì gia đình em có quyền và nghĩa vụ như thế nào. Gia đình kia có phải đang giữ xe trái phép của gia đình em không. Cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2015;

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo như bạn trình bày thì người nhà bạn khi tham gia giao thông trên đường đã đâm phải một người, theo đó, căn cứ Điều 584 BLDS 2015 quy định về việc căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Như vậy, trong trường hợp người nhà bạn khi đâm phải người phụ nữ kia đã xâm phạm đến sức khỏe hay các lợi ích hợp pháp của người đó và gây ra thiệt hại thì người nhà bạn có nghĩa vụ phải bồi thường cho người phụ nữ đó. Còn nếu việc người nhà bạn đâm phải người phụ nữ đó mà do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người đó thì người nhà bạn sẽ không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Người nhà của người phụ nữ kia không có quyền được chiếm giữ xe và CMND của người nhà bạn. Việc chiếm giữ xe và CMND của người nhà bạn là hành vi trái pháp luật, theo đó, khi gia đình bạn gọi tới muốn giải quyết sự việc và xin đòi lại xe thì bị người nhà họ không trả xe, chửi bới, thậm chí là đe dọa. Như vậy, người nhà họ đã thực hiện hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Chiếm giữ trái phép tài sản, được hiểu là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được sau khi có yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 176 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định như sau:

Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Theo đó, cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản bao gồm:

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

+ Về hành vi: Có hành vi (không hành động) cố tình không trả lại tài sản, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan trách nhiệm.

+ Về giá trị tài sản: Giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ 10 triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử văn hoá thì luật không quy định giá trị để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự vì đây là những vật mang giá trị tinh thần hết sức quý giá không thể định giá cụ thể như những loại tài sản thông thường.

Khách thể: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể: Chủ thể của tội này là ngưòi có năng lực trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp tài sản của người nhà bạn bị chiếm giữ có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì người chiếm giữ số tài sản đó phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định của BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Còn trong trường hợp tài sản mà họ chiếm giữ có giá trị dưới 10 triệu đồng thì họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.”

Như vậy, gia đình bạn có thể tố cáo với cơ quan công an đề nghị xử lý người phụ nữ kia và người nhà của người phụ nữ đó về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê