1. Hành vi chở 1 nhóm người đi đánh nhau gây thương tích sẽ bị xử lý như nào?

Xin chào luật sư, Em trai tôi là 1 người lái taxi. Do bạn bè lôi kéo nên em tôi đã chở 1 nhóm gồm 5 người đến 1 quán cafe đánh người. Sau đó lại chở những người đó về. Trong lúc trên đường đi về thì bị công an bắt.

Em trai tôi chỉ lái xe chứ không tham gia vào quá trình đánh người. Người bị hại bị gãy tay, chưa xác định được mức độ bị thương là bao nhiêu %. Qua quá trình thoả thuận giữa các bên thì bên bị hại đã rút đơn kiện và đồng ý mức bồi thường là 30 triệu đồng. Bên công an họ yêu cầu mỗi gia đình vi phạm phải nộp 15 triệu thì mới giải quyết xong vụ án nhưng do gia đình hai bên gồm 5 người không có điều kiện nên không có để nộp. Hiện tại em trai tôi đã được thả ra nhưng cái xe taxi thì vẫn bị giữ lại. Bên công an tuyên bố chỉ tạm tha và sẽ khởi tố vụ án này (vì khi gây án dùng vũ khí nguy hiểm và có tổ chức). Đồng thời sẽ giữ lại cái xe không trả lại nữa.

Vậy trong trường hợp này em tôi có bị khởi tố hay ko? Và cái xe của gia đình tôi có bị giữ lại để bán đấu giá hay ko?

Mong luật sư trả lời sớm vì gia đình tôi đang rất hoang mang. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: TVT

Hành vi chở 1 nhóm người đi đánh nhau gây thương tích sẽ bị xử lý như nào?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như nội dung thư bạn gửi cho chúng tôi, có hai khả năng có thể xảy ra:

Thứ nhất, nếu em bạn không biết việc chở những người kia để đi đánh người hoặc mức độ thương tích của người bị hai chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: trong trường hợp này, em bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như không bị khởi tố bị can với vụ việc này.

Thứ hai, nếu em bạn biết việc chở những người kia là để họ thực hiện hành vi cố ý gây thương tích mà vẫn tham gia và mức độ thương tích của người bị hại đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự :trong trường hợp này, em trai bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điều 104 Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) với vai trò là người giúp sức trong vụ đồng phạm.

Về việc gia đình người bị hại rút đơn: em bạn vẫn có thể bị khởi tố bị can vì trường hợp này không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

"Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Về vấn đề xử lý chiếc xe của gia đình bạn, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:

"Điều 58. Xử lý vật chứng.
1- Việc xử lý vật chứng do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Chánh án, Phó chánh án Toà án cùng cấp hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
2- Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;
c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;
d) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.
3- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.
4- Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo tố tụng dân sự."

Theo quy định trên, chiếc xe nếu thuộc sở hữu của em trai bạn, rất có thể sẽ bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, vì hành vi của em trai bạn chưa đến mức quá nguy hiểm và điều kiện gia đình bạn thực sự khó khăn, bạn có thể đề nghị hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe cho gia đình mình nếu việc tịch thu,sung quỹ là không thực sự cần thiết.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với câu hỏi của bạn. Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

2. Nhiều người cùng đánh nhau gây thương tích bị xử lý như thế nào?

Chào luật sư. Em tên H muốn hỏi luật sư vấn đề sau: em có một người bạn bị một nhóm khoản 22 người vây đánh. Người bạn này mới gọi một đám bạn khác gồm 6 người đến giải cứu, trong đó có em trai em. Khi đến nơi nhóm bạn em bị nhóm người kia ném đá nên nhóm bạn em dùng rựa, típ đánh lại. Một người bên nhóm kia bị thương, phải phẩu thuật mổ lấy máu bầm ( người này bị đánh bằng típ).
Vậy cho em hỏi người cầm rựa có bị phạt tù hay không ạ? Khung phạt như thế nào? Vì người cầm rựa khi đánh nhau bỏ chạy không biết đã bỏ rựa ở đâu nhưng khi công an hỏi thì anh ta lấy cây rựa tại nhà dù nó không phải là vũ khí anh ta dùng trong cuộc ẩu đả ?
Mong luật sư tư vấn cho em ạ. Em chân thành cảm ơn luật sư !

Nhiều người cùng đánh nhau gây thương tích bị xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn luật hình sự về hành vi cố ý gây thương tích, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất, việc xác định đồng phạm.

Theo Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 quy định: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Bên cạnh đó, tại Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Đồng phạm.

"Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm".

Những người đi cùng nhóm em bạn được xác định là đồng phạm về tội cố ý gây thương tích do có cùng mục đích với người gây thương tích cầm típ. Cùng mong muốn hậu quả nhóm bên kia bị thương xảy ra. Những người trong nhóm em bạn biết rõ kế hoạch của người cầm típ và cùng là người thực hiện tội phạm với người đó. Theo đó, hình phạt đối với từng người được xác định dựa trên vai trò của họ trong đồng phạm và tính chất nguy hiểm, hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện.

Thứ hai, xác định chứng cứ.

Theo Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: Chứng cứ.

"Điều 86. Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án".

Tại Điểm a Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

"a) Vật chứng".

Cây rựa khi đánh nhau là vật chứng.

Vật chứng theo quy định tại Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

"Điều 89. Vật chứng

Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án".

Theo Khoản 4 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: Thu thập chứng cứ

"4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này".

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định.

Người cầm rựa khi đánh nhau bỏ chạy không biết đã bỏ rựa ở đâu nhưng khi công an hỏi thì anh ta lấy cây rựa tại nhà dù nó không phải là vũ khí anh ta dùng trong cuộc ẩu đả. Hành vi của anh này không thành khẩn trước pháp luật. Cây rựa đó sẽ bị phát hiện không phải là chứng cứ trong quá trình kiểm tra và đánh giá của cơ quan có thẩm quyền.

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Phân biệt tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ?

3. Trách nhiệm của mỗi bên khi đánh nhau gây thương tích ?

Thưa Luật sư! Tôi xin hỏi: A và B cùng học lớp 12 (17 tuổi) do hiểu nhầm dẫn đến mâu thuẫn , A đã hẹn B đến một nơi vắng rồi dùng gậy đánh liên tiếp vào chân B làm B bị thương. Bị đánh bất ngờ B đã quay lại chống trả đẩy A ngã làm A bị gãy tay. Hậu quả là cả A và B đều phải vào bệnh viện. Giám định thương tật của A là 10%, B là 15%. Vậy trong trường hợp này, trách nhiệm của mỗi bên là như thế nào?
Xin cảm ơn Luật sư!

Trách nhiệm của mỗi bên khi đánh nhau gây thương tích ?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi đánh nhau gây thương tích, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Với những thông tin quý khách cung cấp thì A và B đều có hành vi cố ý gây thương tích cho đối phương với tỷ lệ thương tật của A, B lần lượt là 10% và 15%. Hành vi của A đã đủ dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 104 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; (văn bản mới nhất: Bộ luật hình sự năm 2015):

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân."

Dựa trên giám định tỷ lệ thương tật do trung tâm giám định thực hiện, xét hành vi của A gây ra cho B, A có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích nếu B không làm đơn yêu cầu không khởi tố.

Còn về hành vi của B, mức độ tỷ lệ thương tật B gây ra cho A dưới 11% nên dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích chưa đủ. Nếu hành vi của B không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì B không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích mà chỉ phải bồi thường thiệt hại về hành vi xâm phạm sức khỏe theo quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2015 và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau với mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Điều này được căn cứ vào Điều 6 Nghị định 167/2013/NĐ - CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong linh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đìnhnhư sau:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau
;"

Nhưng nếu hành vi của B thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999 thì B cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích mặc dù tỷ lệ thương tật dưới 11%.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem ngay nội dung: Hành vi cố ý gây thương tích có thể bị phạt tù với mức cao nhất là chung thân

4. Trẻ em dưới 15 tuổi đánh nhau gây thương tích cho bạn thì bố mẹ có phải bồi thường không ?

Kính chào luật sư, nhờ luật sư tư vấn cho tôi trường hợp như sau. Con tôi năm nay 13 tuổi, cháu học lớp 8. Hôm vừa rồi nhập học thì bị bạn cùng lớp trêu nên cháu đã đánh bạn khiến bạn ấy phải nhập viện. Luật sư cho tôi hỏi con gây chuyện như thế thì bố mẹ có phải đền không?
Tôi xin cảm ơn!

Trẻ em dưới 15 tuổi đánh nhau gây thương tích cho bạn thì bố mẹ có phải bồi thường không?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Đồng thời khoản 1 điều 599 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý

1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

Theo căn cứ trên thì:

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của cha, mẹ.

- Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ mà người gây ra thiệt hại có tài sản riêng thì lấy phần tài sản đó để bù vào phần còn thiếu.

- Trường hợp người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học trực tiếp quản lý thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

- Người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Như vậy, trong trường hợp của bạn chúng tôi xin chia thành 2 trường hợp như sau:

- Trường hợp 1: Con bạn đánh bạn gây ra thiệt hại trong thời gian nhà trường quản lý thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của nhà trường.

- Trường hợp 2: Con bạn đánh bạn gây ra thiệt hại ngoài thời gian nhà trường quản lý thì cha, mẹ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung: Thủ tục khởi tố vụ án cố ý gây thương tích thực hiện như thế nào ?

5. Tự vệ trong lúc đánh nhau gây thương tích cho người vô can có bị tội không ?

Thân chào luật sư! Theo em được biết thì ông A (bố vợ em) có mâu thuẫn với hàng xóm là ông B từ trước. Cách đây 2 năm con cháu ông B đem bóng vào vườn ông A để chơi, vì là vườn trồng chuối và mãng cầu nên ông A sợ các cháu làm gãy cây nên có la mắng con cháu của ông B. Sau đó thì phía gia đình ông B thù vặt nên ông B cùng con trai mang cây gậy sang nhà vây đánh ông A trong lúc xô sát ông A có nhặt được khúc cây và đánh trả trúng vào đầu ông B gây thương tích. Sau đó thì đôi bên tự hòa giải không thưa kiện cho đến nay được 2 năm (tạm tính).
Trong một lần nhà ông B có đám giỗ, sau cuộc nhậu say ông B nhớ lại chuyện cũ nên cùng 2 người con trai và 1 vài người bà con của ông B sang nhà ông A vây đánh. (Ông A lúc này đang tưới cây) lúc này con trai của ông B nhặt viên gạch nguyên ném vào mặt ông A gây thương tích, trong lúc loạng choạng vì đau nên ông A nhặt mảnh gạch nhỏ gần đó ném lại về phía gia đình ông B rồi bỏ chạy và không biết rằng mảnh gạch ông A vừa ném văng trúng vào đầu bà N (mẹ ông B) (là người không liên can trong vụ việc) gây thương tích, vì tuổi già nên hiện nay bà N đang cấp cứu trong bệnh viện với tình trạng nguy kịch. Quay trở lại với sự việc sau khi ông A ném trúng bà N thì bỏ chạy vào nhà em trai gần đó. Ông B và con trai ông B tiếp tục cầm cây gậy đuổi theo tới nhà em trai của ông A chửi bới đòi đánh. Sau đó ông B cùng con trai quay về nhà ông A đập phá tài sản.
Sự việc đã được trình báo cơ quan chức năng và đang được điều tra làm rõ. Xin hỏi luật sư trong sự việc nêu trên nếu rơi vào tình huống xấu nhất là bà N (mẹ ôngB) không qua khỏi thì ông A có bị truy tố trách nhiệm hình sự không̣!và mức phạt cao nhất dành cho ông A ra sao? Hoặc trường hợp bà N qua khỏi thì ông A có phải bồi thường thuốc men gì cho bà N hay không?
Em xin cảm ơn luật sư trước ạ!

Tự vệ trong lúc đánh nhau gây thương tích cho người vô can có bị tội không ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp và theo như yêu cầu của câu hỏi là về hành vi của Ông A bị xử lý thế nào, nên chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu về các hành vi của Ông A và xác định lỗi của người này. Như bạn cung cấp, do có mâu thuẫn với nhà Ông B và trong lúc bị người nhà Ông B đánh ông A tự vệ và có vô tình ném mảnh gạch trúng đầu bà N gây thương tích cho bà N. Đối với hành vi này của Ông A sẽ bị xử lý như sau:

- Trường hợp nếu bà N bị chết:

Trường hợp Ông A dùng gạch ném lại phía Ông B nhưng chẳng may làm bà N bị thương và sau khi được đưa đi chữa trị mà không qua khỏi thì hành vi của Ông A đã cấu thành nên tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

Điều 98. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Vô ý làm chết một người là trường hợp phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể xảy ra hậu quả chết người, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó và hậu quả đó chỉ có một người chết. Đối với hành vi này Ông A sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến năm năm theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp Bà N chỉ bị thương:

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Mức bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng , cụ thể bao gồm các chi phí sau đây:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm. Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Ngoài việc phải bồi thường cho bà N về hành vi mà mình gây ra, Ông A sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi của mình theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

hoặc ông A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

"Điều 108. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung: Tư vấn về tội danh cố ý gây thương tích theo luật hình sự?

6. Nhờ người đánh nhau gây thương tích ?

Thưa Luật sư: Tôi muốn hỏi, A nhờ B đi đánh C. A không trực tiếp đi đánh nhưng B đánh C bị thương tích 5%. C không đồng ý thỏa thuận mà cương quyết kiện. Vậy B và A sẽ chịu trách nhiệm hình sự như thế nào. Cả hai đều không có tiền án, tiền sự từ trước. Đặc biệt A khi ban đầu nhờ B đánh C chỉ với mục đích cảnh cáo. Như thế A có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Thương tích bao nhiêu phần trăm phải đi tù ?
Em xin cảm ơn!

Nhờ người đánh nhau gây thương tích ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân"

Theo thông tin bạn cung cấp, C bị thương tật 5%, B chưa có tiền án, tiền sự. Như vậy, B sẽ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nếu B dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; hoặc gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; hoặc phạm tội có tổ chức.

Điều 20 quy định về đồng phạm:

"1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm".

Theo thông tin bạn cung cấp, A nhờ B đánh người, nói cách khác, A là người xúi giục B thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, A và B là đồng phạm. B phải chịu trách nhiệm hình sự, thì A cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê