Khi nhận tiền bà A có viết giấy đã nhận tiền của gia đình tôi 300 triệu với mục địch xin việc cho chị gái tôi và ghi rõ nếu không xin được việc sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền đó. Tuy nhiên đã 2 năm không xin được việc, gia đình tôi lại rất khó khăn vì số tiền 300 triệu kia đều là đi vay. Gia đình tôi có đặt vấn đề xin lại số tiền đó thì bà A công khai không trả. Qua tìm hiểu tôi được biết bà A nhận tiền của rất nhiều người như thế chứ không riêng gia đình tôi . Nay tôi muốn đòi lại số tiền đó. Tôi đang thắc mắc là tôi có thể kiện bà A tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không ? Và làm như thế nào để gia đình tôi lấy lại được số tiền đó? Thủ tục kiện tụng như thế nào?

Tôi và gia đình xin chân thành cảm ơn luật sư !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn luật hình sự gọi 1900.1940 của công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Nội dung phân tích:

Điều 139 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Về cấu thành tội phạm.
Theo đó: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về mặt khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

 Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác.

 Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
 
Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bà A đã nhận số tiền 300 triệu của của gia đình bạn để xin việc cho chị gái bạn nhưng sau 2 năm bà A vẫn không xin được việc cho chị gái bạn. Khi gia đình bạn đòi lại số tiền 300 triệu thì bà A tuyên bố công khai là không trả thì hành vi của bà A có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi vì bà A đã đưa ra những thông tin sai lệch  nhằm để gia đình bạn tin đó là sự thật mặc dù bản thân bà A biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật và hành vi lừa dối như vậy có thể được thực hiện qua lời nói. Bên cạnh đó, bà A còn có những hành vi giữ tài sản là số tiền 300 triệu mà đáng lẽ số tiền này phải được giao cho gia đình bạn. Vì vậy trong trường hợp này bà A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thủ tục khởi kiện: 
- Trước hết bạn cần làm đơn tố cáo và đề nghị khởi tố vụ án hình sự lên Cơ quan điều tra (Công an quận huyện) nơi người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cư trú. Ngoài nội dung của đơn kiện bạn phải trình bày, bạn phải gửi kèm các tài liệu chứng cứ.
- Sau khi nhận đơn tố cáo của bạn cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra nếu thấy dấu hiệu của tội phạm thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nếu không có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua emailTư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự.