Kinh chào Luật Minh Khuê! Em trai tôi đang làm tại 1 Công ty. Năm 2015 Công ty có yêu cầu đóng Tài khoản Ngân hàng có số tiền 120.000.000 đồng. Sau khi đóng TK em tôi không mang về nộp luôn mà đến tháng 2/2016 mới nộp lại 120.000.000 đồng cộng với lãi vay tự tính cho Công ty và hạch toán số liệu đóng vào thời điểm nộp. Đến T6/2016 em tôi tự động rút 700.000.000 đồng tiền từ TK Ngân hàng của Công ty bằng séc có sẵn chữ ký, sau đó đã trả lại đủ 700.000.000 đồng vào TK tại tháng 7/2016 và cũng không hạch toán sự việc rút nộp vào sổ sách. Đến tháng 9/2016, do hối hận vì hành vi trên, em tôi làm bản tường trình thú nhận sự việc trên với Công ty. Em tôi không có ý định chiếm đoạt một đồng nào, chỉ tạm thời sử dụng cho mục đích cá nhân và đã trả lại đủ trước khi tự thú với Công ty. Hành vi của em trai tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Gia đình tôi đang rất lo lắng vì sự việc này. Kính mong nhận được sự tư vấn của Quý Văn phòng luật.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Hành vi tự ý rút nộp tiền của công ty tại ngân hàng có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời: 

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn

Theo quy định pháp luật hình sự thì tội của em trai bạn không phải là chiếm đoạt tài sản mà là sử dụng trái phép tài sản của người khác theo quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 142. Tội sử dụng trái phép tài sản 

1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Tuy nhiên, sau khi đóng TK em bạn không mang về nộp luôn mà đến tháng 2/2016 mới nộp lại 120.000.000 đồng cộng với lãi vay tự tính cho Công ty và hạch toán số liệu đóng vào thời điểm nộp. Đến T6/2016 em bạn tự động rút 700.000.000 đồng tiền từ TK Ngân hàng của Công ty bằng séc có sẵn chữ ký, sau đó đã trả lại đủ 700.000.000 đồng vào TK tại tháng 7/2016 và cũng không hạch toán sự việc rút nộp vào sổ sách. Đến tháng 9/2016, do hối hận vì hành vi trên, em bạn làm bản tường trình thú nhận sự việc trên với Công ty. Em bạn không có ý định chiếm đoạt một đồng nào, chỉ tạm thời sử dụng cho mục đích cá nhân và đã trả lại đủ trước khi tự thú với Công ty. Do đó, có thể thấy em bạn có các tình tiết được giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 46.  Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái  pháp luật của người bị hại hoặc  người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h)  Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc  công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ  trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

Theo quy định trên em trai bạn có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó theo Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì em trai bạn sẽ được miễn hình phạt:

"Điều 54.  Miễn hình phạt

Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định  tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật hình sự.