Vậy mong luật sư cho biết: 

1. Người đó xẽ bị tòa án xử theo điều bao nhiêu của bộ luật hình sư? Cụ thể là xử bao nhiêu năm tù?

2. Có tình tiết giảm nhẹ không vì người đó đã trả lại tài sản rồi?

3. Người đó có thể tự bào chữa cho mình như thế nào? 

Người gửi: mathuong...@gmail.com

Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ theo đường dây nóng (24h/7) 1900.6162 để được tư vấn miễn phí.

Hình phạt đối với tội cưỡng đoạt tài sản?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 1999 

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

Phân tích nội dung

Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 135 BLHS. Theo đó, Điều 135 BLHS năm 1999 quy định: 

"Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản 

1. Người nào  đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Dựa vào quy định trên, bạn có thể xác định mức hình phạt người đó phải chịu.

Về vấn đề tình tiết giảm nhẹ, do người hàng xóm của bạn trả lại tài sản sau khi bị tố cáo lên cơ quan công an nên đây không được coi là tình tiết người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 ĐIều 46 BLHS về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về vấn đề tự bào chữa: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa có thể là bị can, bị cáo vì vậy, người hàng xóm của bạn hoàn toàn có thể đứng ra tự bào chữa cho mình.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty Luật Minh Khuê