Theo pháp luật anh ý phải chịu hình phạt như thế nào ạ? Anh chị giúp em xem có cách giải quyết nào nhẹ nhất cho anh ý không ạ.

Em xin chân thành cảm ơn anh chị ạ!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Hình phạt về tội say rượu gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sư, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Nội dung phân tích:

Vấn đề 1: Xét theo quy định của pháp luật Nếu tỉ lệ thương tật từ 11% trở lên thì những người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Như vậy, anh họ bạn  uống rượu đánh nhau gây Tỷ lệ thương tật cho đối phương là 14% nên đã cấu thành nên tội , được quy định như sau: 

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân."

Như vậy,  mặc dù gây thương tích cho đối phương nhưng 2 bên gia đình đã đồng ý thương lượng với nhau để giải quyết vấn đề .Vì vậy anh bạn chỉ bị khởi kiện nếu người bị hại khởi kiện và không bị khởi kiện nếu người bị hại có đơn bãi nại đối với vụ việc này. Trường hợp phía Công an vẫn yêu cầu khởi tố là sai. Theo quy định quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, thì vụ án về tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ được khởi kiện khi có yêu cầu của người bị hại hoặc gia đình ( người đại diện hợp pháp) nếu người bị hại là người chưa thành niên.

Điều 105 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định như sau:
“1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.
Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Vấn đề 2:    Nếu anh bạn được xác định tội danh là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thỏa mãn các điều kiện tại Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 mặc dù có đơn bãi nại của người bị hại thì Cơ quan Công an vẫn yêu cầu  khởi tố vụ án này.

Anh họ bạn bị truy tố theo Khoản 2 nêu trên thì sẽ  bị phạt tù từ 2 năm đến 7năm, mức án cụ thể còn phải phụ  thuộc vào các yếu tố như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của anh họ bạn và  từ đó Tòa án sẽ đưa ra phán quyết cụ thể cho sự việc này,  được quy định chi tiết tại Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định như sau:

“1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

A) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

B) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

C) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

D) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

Đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

E) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

G) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

H) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

I) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

K) Phạm tội do lạc hậu;

L) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

M) Người phạm tội là người già;

N) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

O) Người phạm tội tự thú;

P) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

R) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

S) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.”
Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê.

Trân trọng./

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.