Câu chuyện là như thế này :ông a (cậu tôi) và bà t đã tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau hơn 20 năm nay (nhưng chưa từng đăng kí kết hôn) và có được 1 đứa con gái chung là c 20 tuổi. Họ mướn một căn nhà trọ để chung sống với nhau và buôn bán ăn sáng tại nhà. Lúc trước, hai vợ chồng đã rất hạnh phúc (có vài lần do cự cãi và bất đồng về tiền bạc bà t bỏ nhà đi) nhưng sau đó có quay về và sống bình thường với nhau. Vài nay gần đây, trong những lần bỏ đi như vậy bà t có quan hệ tình cảm với một người khác (thuộc giới tính thứ 3).

Trong một dịp, tình cờ ông a nghe được cuộc điện thoại của người thứ 3 đó gọi cho vợ mình với những lời lẽ ngọt ngào nên ông a không kiềm chế được đã xảy ra cự cãi qua điện thoại với người thứ 3 đó. Sau đó bà t lại tiếp tục bỏ nhà đi nhưng lại mướn một phòng trọ gần đó để ở và thường xuyên qua lại với người thứ 3 kia. Trong những lúc bà t bỏ nhà đi, ông a có quen được 1 người bạn, chị ấy (mẹ đơn thân) thương hại ông a nên đã giúp đỡ và tạo công ăn việc làm cho ông a bằng việc đi thu tiền giúp chị để có chi phí trang trải cho cuôc sống.

Thấy vậy bà t cho rằng ông a đang ngoại tình với người khác nên đã bảo đứa con gái c dọn ra mang theo các đồ đạc có giá trị (tủ lạnh nhỏ, máy giặt,…) đến sống cùng bà. Lúc này trong nhà chỉ còn lại những cái nồi, xoong, chảo, bàn ghế và cái tủ đã cũ mà trước đây hai vợ chồng buôn bán ăn sáng. Nhận thấy mối quan hệ vợ chồng không thể duy trì được nữa, ông a đã làm đơn xin ly hôn với bà t và gửi cho khu vực mà ông a đang sống. Phía bên khu vực có mời bà t lên giải quyết nhưng nhiều lần bà t không có mặt. Tuy vậy, bà đã ra điều kiện với ông a rằng “cần phải bồi thường số tiền gần 19-20 triệu đồng vì đã bán những món đồ trong gia đình” (ông a bán để có thể trang trải chi phí trong gia đình khi bà t bỏ nhà đi) thì khi đó bà mới kí đơn li dị. Nhận thấy những món đồ trong gia đình mà ông a đã bán không đáng giá trị như bà t đã đưa ra nên ông không đồng ý bồi thường. Trong khoảng hơn 4-5 tháng trở lại đây, bà t thường xuyên làm khó dễ và kiếm chuyện gây sự với ông a vì cho rằng ông ngoại tình bỏ bê vợ và con. Bà t hâm dọa đủ điều rằng nếu bắt gặp ông a đi với người đàn bà khác ở đâu là bà sẽ xử lí và quánh ghen ngay lập tức. Trong những tài sản của ông a là có chiếc xe nouvo lx (do chị ruột của ông a đứng tên, ông a và bà t không có tài sản chung với nhau trong thời gian chung sống), ông a đã cho đứa con gái c mượn để thuận tiện cho việc đi làm. Khoảng đầu tháng 8 đến nay, bà t và con gái c có ý định qua về bên quê ngoại để sống và xin việc làm cho c bên đó nên đã nhờ chị ruột của ông a làm giấy tờ cắt hộ khẩu dùm (vì con gái c trước đây nằm trong hộ khẩu của cô, tức chị ruột ông a để thuận tiện cho việc đi học nhưng chỉ có c chứ bà t chưa từng được nhập hộ khẩu). Mọi thủ tục đã làm xong, con gái c và bà t muốn mượn chiếc xe nouvo lx để về bên đó thuận tiện cho việc con gái a đi làm, nhưng chị của ông a không đồng ý vì cô gái c chưa có bằng lái xe và nếu có chuyện gì xảy ra thì sẽ bị phạt khá nặng vì cô c chạy xe không chính chủ và không có giấy tờ (vì carvet xe do chị của ông a giữ).

Nhưng do cô c năn nỉ vì khi về bên đó không có phương tiện để đi tìm việc làm nên chỉ xin mượn vài hôm rồi sẽ đem qua trả. Nhưng cô c đã mượn mà dường như không thấy có ý định trả xe, vì khi hỏi tới thì trả lời ậm ừ và cô c chạy xe từ bên ngoại qua chơi mà không thấy ý định trả nên chị của ông a mới quyêt định xuống nhà để đòi lại chiếc xe. Khi đó, cô c không còn thấy độ năn nỉ mà lại đi giấu chìa khóa xe bên nhà người khác để chị ông a không thể lấy xe được. Khi đó bà t đến và hai bên có xảy ra cự cãi với nhau và cô con gái c đã đập xe vì cho rằng người cô của mình độc ác và cả 2 mẹ con thể hiện sự phẫn nộ bằng việc dùng những lời lẽ thô tục và mất dạy để nói với người chồng, người cha và người thân bên gia đình chồng. Trước đó và sau sự việc đó xảy ra, bà t đã tự ý lấy hình ảnh của ông a đăng rất nhiều lên facebook, zalo, và gửi qua điện thoại của chị ông a kèm theo những từ ngữ và lời lẽ bôi nhọ nhân phẩm, xúc phạm thô tục, mất dạy, nêu ra họ tên của từng người trong gia đình ông a với những cụm từ “rất tục tiểu” và có lời đe dọa là sẽ làm nhục làm xấu danh dự cả gia đình của ông a và sẽ phá hủy toàn bộ tài sản còn sót lại trong căn nhà mà ông a đang thuê. Nhận thấy vấn đề ngày càng nghiêm trọng hơn và những lời đe dọa đó có thể sẽ thành sự thật vì bà t rất liều lĩnh nên chúng tôi rất cần những lời tư vấn hết sức cấp thiết của luật sư. Mong quý luật sư sẽ sớm đưa ra những cách giải quyết giúp chúng tôi, hướng dẫn chúng tôi phải làm gì để đảm bảo an toàn cho gia đình để vấn đề không ngày một xấu đi ?

Rất mong sự giúp đỡ tư vấn của luật sư, mong sự hồi âm nhanh nhất của luật sư. Xin chân thành cám ơn.

Người gửi : Bichngan

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 

2. Nôi dung tư vấn:

Theo như bạn tường thuật, trình bày lại rất dài và cụ thể, chi tiết thì cô con gái c đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hủy hoại tài sản. Còn bà b thì có hành vi "tự ý lấy hình ảnh của ông a đăng rất nhiều lên facebook, zalo, và gửi qua điện thoại của chị ông a kèm theo những từ ngữ và lời lẽ bôi nhọ nhân phẩm, xúc phạm thô tục, mất dạy, nêu ra họ tên của từng người trong gia đình ông a với những cụm từ “rất tục tiểu” và có lời đe dọa là sẽ làm nhục làm xấu danh dự cả gia đình của ông a và sẽ phá hủy toàn bộ tài sản còn sót lại trong căn nhà mà ông a đang thuê.".

Như vậy, thứ nhất, cô con gái c đã phạm vào Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Bộ luật hình sự 2015.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định, hướng dẫn tại Điều 175 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định, hướng dẫn tại Điều 178 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Gây thiệt hại tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ hai, hành vi của bà t đã phạm vào tội làm nhục người khác.

Tội làm nhục người khác được quy định, hướng dẫn tại Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, ông a và chị ông a có thể gửi đơn tố cáo về hành vi của bà t và cô c đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân để được thụ lý giải quyết. Trong trường hợp các cơ quan tư pháp nhận thấy có dấu hiệu tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì bà t và cô c có thể bị bắt giam để đảm bảo an toàn cho ông a.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về hành vi xúc phạm danh dự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê