1. Cách tính thời gian thử thách của án treo?

Án treo là một chế định thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Với phương châm “giáo dục - khoan hồng”, án treo không buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội.

Họ vẫn được làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Là một trong những hình phạt mang tính giáo dục cao, án treo khuyến khích người bị kết án tự nguyện lao động, cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội. Khi áp dụng án treo trong hoạt động xét xử, các Tòa án đôi khi gặp những vướng mắc liên quan đến thời gian thử thách của án treo, đó là việc ấn định mức thời gian thử thách của án treo và xác định thời điểm tính thời gian thử thách của án treo.

1.1. Việc ấn định mức thời gian thử thách của án treo

Khi quyết định cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, Toà án đồng thời buộc phải tuyên thời gian thử thách đối với người phạm tội và chế định án treo chỉ có ý nghĩa khi tuyên thời gian thử thách đúng theo luật định. Thời gian thử thách là khoảng thời gian đủ để người bị kết án tự khẳng định về sự tự giác cải tạo của mình. Mặt khác, thời gian thử thách của án treo cũng giúp Toà án có điều kiện kiểm tra tính đúng đắn của việc áp dụng án treo đối với người bị kết án trong thời gian chấp hành bản án.

.Về cách tính thời gian thử thách của án treo

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Khoản 1, Điều 65 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

"1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự."

Mọi trường hợp ấn định thời gian thử thách dưới một năm hoặc trên năm năm đều không đúng với quy định của BLHS. Nghiên cứu các bản án của Tòa án đã tuyên trong thời gian qua, ta thấy vẫn còn một số bản án của Tòa án cấp huyện và ngay cả bản án của Tòa án cấp tỉnh ở một vài địa phương vi phạm quy định của BLHS về việc ấn định mức thời gian thử thách của án treo, như tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/HS-ST ngày 26/02/2002 của Tòa án nhân dân huyện S - tỉnh G xử phạt Lê Minh Thuận 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích, thời gian thử thách là 4 tháng. Hoặc bản án hình sự sơ thẩm số 58/HS-ST ngày 07/06/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh G xử phạt Bùi Thị Lượng 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội cướp tài sản, nhưng lại không tuyên thời gian thử thách. Các bản án này đã thể hiện sự sai lầm hết sức nghiêm trọng, cần phải phát hiện và khắc phục kịp thời.

Trong thời gian thi hành BLHS năm 1985, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng án treo là Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 05/01/1986, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988, Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989, Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990 và TANDTC cũng có Thông tư số 01/NCPL ngày 06/04/1988. Các văn bản này đều thống nhất hướng dẫn về việc ấn định mức thời gian thử thách khi tuyên án treo là “từ một năm đến năm năm và không thấp hơn mức phạt tù”.

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS, tại mục 6.4 quy định:

"Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Tòa án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và phân biệt như sau:

a) Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng 2 lần mức hình phạt tù nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm.

b) Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng 2 lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành nhưng không được dưới một năm năm và không được quá năm năm."

So sánh Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 với các văn bản ban hành trước đó hướng dẫn về cách ấn định thời gian thử thách của án treo, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt sau:

Thứ nhất, quy định về cách tính thời gian thử thách của án treo đối với trường hợp bị cáo không bị tạm giam theo các văn bản đã ban hành trước đây phải thoả mãn hai điều kiện: Một là, ấn định mức thời gian thử thách chỉ trong giới hạn từ một năm đến năm năm; Hai là, không thấp hơn mức phạt tù đã tuyên. Ví dụ: Trần Ngọc Bình bị Tòa án huyện N, tỉnh P tuyên phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc thì thời gian thử thách mà Toà án được quyền ấn định bất kỳ một mức nào trong giới hạn tối thiểu là 2 năm và tối đa là 5 năm.

Theo Nghị quyết số 01T/2007/NQ-HĐTP hướng dẫn về cách tính thời gian thử thách của án treo đối với trường hợp bị cáo không bị tạm giam có hai điều kiện: một là, ấn định mức thời gian thử thách gấp hai lần mức phạt tù đã tuyên; hai là, không được dưới một năm và không được quá năm năm. Theo đó, cũng ví dụ trên, Toà án huyện N, tỉnh P chỉ được phép ấn định mức thời gian thử thách đối với Bình là 2 năm tù x 2 lần = 4 năm thử thách, mà không được có bất kỳ một sự lựa chọn nào khác.

Như vậy, cách ấn định thời gian thử thách của án treo theo quy định tại các văn bản đã ban hành trước đây vẫn là hướng dẫn mang tính tuỳ nghi, Toà án còn có nhiều kết quả lựa chọn khác nhau. Còn việc ấn định thời gian thử thách của án treo theo Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP luôn mang tính xác định, chính xác và chặt chẽ với kết quả ấn định là một chỉ số duy nhất.

Thứ hai, các văn bản ban hành trước khi có Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP hoàn toàn không có hướng dẫn về cách ấn định thời gian thử thách của án treo đối với trường hợp người phạm tội đã bị tạm giam. Do đó, trong thời gian qua, một số trường hợp người phạm tội đã bị tạm giam, khi xét xử họ đảm bảo đủ các điều kiện cho hưởng án treo nhưng Toà án thường né tránh không cho áp dụng án treo vì sự phức tạp, không rõ ràng của nó. Số ít Toà án mạnh dạn áp dụng án treo đối với các trường hợp đó lại rất lúng túng trong việc ấn định thời gian thử thách. Vấn đề này xuất hiện hai quan điểm:

Quan điểm 1: trừ thời gian tạm giam vào phần hình phạt phải chấp hành, sau đó mới ấn định thời gian thử thách (thực tiễn thường áp dụng theo quan điểm này).

Quan điểm 2: tuyên thời gian thử thách trước rồi mới chuyển đổi thời gian tạm giam thành thời gian thử thách rồi khấu trừ vào phần thời gian thử thách đã tuyên.

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định rất chi tiết, rõ ràng, đầy đủ về cách ấn định thời gian thử thách của án treo đối với trường hợp người phạm tội đã bị tạm giam như đã trích dẫn. Ví dụ: Trần Đình M đã bị tạm giam 6 tháng được Toà án huyện L xử phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Cách ấn định thời gian thử thách như sau: tính mức phạt tù còn lại M phải chấp hành là: 24 tháng tù - 6 tháng tạm giam = 18 tháng tù. Sau đó, Toà án phải ấn định thời gian thử thách với M là 18 tháng tù x 2 lần = 36 tháng thử thách.

Tóm lại, việc ban hành kịp thời Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP hướng dẫn về cách ấn định thời gian thử thách của án treo đã tháo gỡ hoàn toàn những vướng mắc mà thực tiễn thường gặp như đã nêu. Một phần, nó đảm bảo quyền lợi của người bị kết án khi đủ các điều kiện cho hưởng án treo dù đã bị tạm giam hay không đều bình đẳng với nhau và đều được hưởng chính sách khoan hồng này. Loại trừ hoàn toàn trường hợp vì đã bị tạm giam, người phạm tội đáng lẽ được hưởng án treo thì lại phải chấp hành hình phạt tù, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Mặt khác, quy định này tạo ra việc áp dụng pháp luật về chế định án treo nói chung, cách ấn định thời gian thử thách của án treo nói riêng mang tính thống nhất, chặt chẽ và chính xác.

Tại thời điểm hiên nay đang áp dụng Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 về án treo đã quy định chi tiết, rõ ràng hơn nhiều so với Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP nhằm đảm bảo việc thống nhất áp dụng hình phạt án treo cho người phạm tội.

1.2. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo

Mốc thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo không được trực tiếp quy định trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, kể cả Bộ luạt Hình sự mới đang có hiệu lực hiện hành là Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà chỉ được hướng dẫn trong các văn bản dưới luật và giữa chúng có sự khác nhau, tựu trung ở hai hướng giải thích:

Hướng thứ nhất, thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo. Theo đó, nếu Tòa án cấp sơ thẩm cho người bị kết án được hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, còn nếu Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Những văn bản pháp luật hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo theo hướng này là: Thông tư số 01/NCPL ngày 06/4/1988 của TANDTC; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1998, Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/4/1989, Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990 và văn bản được ban hành gần đây nhất là Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007.

Hướng thứ hai, thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án. Nghĩa là thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được tính từ khi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị (muộn nhất là sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm). Hoặc nếu có kháng cáo, kháng nghị mà Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách sớm nhất khi tuyên án phúc thẩm.

Những văn bản pháp luật hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo theo hướng thứ hai là Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ và Công văn số 81/TANDTC ngày 10/06/2002. Theo đó, tại Khoản 5, Điều 5 của Nghị định số 61 quy định: “người được hưởng án treo là cán bộ công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương... thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án”. Mục 3 của Công văn số 81/TATC lại một lần nữa khẳng định hướng dẫn trên là “người được hưởng án treo là cán bộ công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người làm công ăn lương... thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án chứ không phải kể từ ngày Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách”.

So sánh hai hướng giải thích trên về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo, theo chúng tôi:

- Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo theo hướng thứ nhất thể hiện được tính hợp lý của nó là phát huy được tác dụng phòng ngừa tội phạm của án treo ngay từ khi tuyên án sơ thẩm. Cách này hạn chế tình trạng người được hưởng án treo phạm tội trong thời gian kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm mà không bị coi là phạm tội trong thời gian thử thách, từ đó loại trừ sự phức tạp trong việc tổng hợp hình phạt nếu người được hưởng án treo phạm tội trong thời gian kháng cáo, kháng nghị. Mặt khác, nó cũng làm cho người bị kết án đỡ bị thiệt thòi vì việc xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm thường chậm. Song hướng dẫn này cũng bộc lộ một bất cập là cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát, giáo dục người bị kết án chỉ bắt đầu thực hiện chức năng này khi nhận được quyết định thi hành án sau khi bản án đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị. Vậy trong thời gian kháng cáo, kháng nghị cơ quan nào (Tòa án hay chính quyền địa phương hay cơ quan nơi người bị kết án làm việc) theo dõi, giám sát người bị kết án thi hành bản án?

- Hướng thứ hai về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo khắc phục được bất cập của hướng thứ nhất như đã phân tích ở trên (tức thời gian kháng cáo, kháng nghị của bản án sơ thẩm không được tính vào thời gian thi hành án). Song hướng dẫn này thể hiện điểm bất cập ở chỗ đã phân hoá người bị kết án được hưởng án treo thành hai nhóm:

Nhóm 1, người được hưởng án treo là cán bộ công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người làm công ăn lương.

Nhóm 2, người được hưởng án treo là các đối tượng còn lại như nông dân, người không có việc làm, người làm công việc nội trợ...

Trong hai nhóm đối tượng trên, chỉ nhóm 1 mới phải chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 61 khi phạm tội được hưởng án treo thì thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án. Nếu đối tượng thuộc nhóm hai thì mặc nhiên được áp dụng cách tính theo hướng thứ nhất tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990 .

Một bất cập nữa là nếu thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo theo Nghị định 61 sẽ gây bất lợi cho người được hưởng án treo, thể hiện qua ví dụ: ngày 01/01/2003 Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo A 5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 1 năm. Sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị. Ngày 02/02/2003, Tòa án ra quyết định thi hành án, cùng ngày giao cho UBND xã H nhận quyết định thi hành án và trích lục bản án.

Ở ví dụ trên, nếu căn cứ vào Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18/10/1990 và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 thì thời gian thử thách tính từ ngày 01/01/2003, đến ngày 01/01/2004 A chấp hành xong thời gian thử thách và nếu không phạm tội mới trong thời gian này thì ngày 01/01/2005 A được xoá án tích. Nếu căn cứ vào Nghị định 61, các mốc tố tụng trên phải tính từ ngày 02/02 (lùi về sau ít nhất 1 tháng). Bên cạnh đó, sự khác biệt thể hiện bất lợi rõ hơn cho người được hưởng án treo của Nghị định 61, đó là: nếu trong khoảng thời gian từ 01/01/2004 đến 02/02/2004 mà A phạm tội mới thì theo Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18/10/1990 và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, A không bị coi là phạm tội trong thời gian thử thách; do đó, A chỉ phải chịu hình phạt của tội mới thực hiện. Còn theo Nghị định số 61, A bị coi là phạm tội trong thời gian thử thách và phải chịu hình phạt tổng hợp 5 tháng tù của bản án đã cho hưởng án treo với hình phạt của tội mới thực hiện. Đặc biệt, nếu bản án có kháng cáo, kháng nghị, các mốc thời điểm này còn lùi về sau nhiều hơn, càng tạo ra sự cách biệt xa hơn về quyền lợi của người bị kết án được hưởng án treo.

Liên hệ với thực tiễn, hầu hết Tòa án các địa phương đều căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18/10/1990 và hiện nay là Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 để tính thời gian thử thách của án treo. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ với hướng lựa chọn văn bản áp dụng của Tòa án về vấn đề này, bởi lẽ:

- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC và Nghị định của Chính phủ đều là văn bản quy phạm pháp luật, song hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo là loại quy phạm pháp luật về luật nội dung của pháp luật hình sự (hay nói cách khác đây là loại quy phạm pháp luật hình sự) thì phải thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Còn Nghị định của Chính phủ chỉ ban hành các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án nên Nghị định số 61 sẽ không được áp dụng trong trường hợp này.

- Từ ví dụ đã phân tích ở trên cho thấy cách tính thời gian thử thách theo Nghị định số 61 luôn gây ra sự bất lợi ở các mức độ khác nhau cho người bị kết án so với Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán.

- Nghị định số 61 phân hoá người bị kết án được hưởng án treo theo hai nhóm với hai cách tính khác nhau là vi phạm nguyên tắc công bằng, nguyên tắc bình đẳng trong chính sách hình sự và thực tiễn áp dụng.

Từ những vấn đề vướng mắc như đã phân tích, để tạo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật, từ đó đảm bảo quyền lợi của người bị kết án, ngày 15 tháng 05 năm 2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định thống nhất thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được xác định theo Điều 5 Nghị quyết này như sau:

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

>> Tham khảo ngay: Điều kiện được hưởng án treo theo quy định mới nhất của luật hình sự ?

2. Đang trong thời gian thử thách hưởng án treo có phải đi nghĩa vụ?

Thưa Luật sư, em đang trong trong thời gian thử thách vì bị án treo thì có được đi nghĩa vụ quân sự không ạ? Và trong thời gian này họ gọi em đi học lớp kết nạp đảng để đi lính thì em có được kết nạp đảng không? Và không đi học có sao không? Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, em xin cảm ơn!

Đang trong thời gian thử thách hưởng án treo có phải đi nghĩa vụ ?

Luật sư tư vấn luật nghĩa vụ quân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định về trường hợp không được đăng ký nghĩa vụ quân sự như sau:

"Điều 13. Đối tượng không được đăng ký nghĩa vụ quân sự

1. Công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây không được đăng ký nghĩa vụ quân sự:

a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế hoặc đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích;

b) Đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) hoặc đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

c) Bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Khi hết thời hạn áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này, công dân được đăng ký nghĩa vụ quân sự".

Trường hợp của bạn thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 nêu trên, bạn đang chấp hành hình phạt án treo - là một hình phạt tù có điều kiện, chưa chấp hành xong, đang trong thời gian thử thách, đương nhiên sẽ chưa được xóa án tích theo quy định. Do đó, bạn thuộc đối tượng không được đăng ký nghĩa vụ quân sự. Việc bạn không đi học lớp đối tượng đảng không phải hành vi vi phạm pháp luật. Trường hợp của bạn không được đăng ký thực hiện nghĩa vụ quân sự, từ đó, bạn không được gọi nhập ngũ.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Đã xóa án tích có được kết nạp Đảng hay không?

3. Phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo?

Thưa luật sư! Tôi muốn hỏi luật sư, tôi có anh bạn hiện đang chấp hành án treo 6 tháng, 12 tháng thử thách và chưa chấp hành xong thì tiếp tục bị bắt vì tội đánh bạc và lần này trên chiếu là trên 50 triệu thì mức án anh ta sẽ phải chịu là như thế nào?

Kính mong luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

"5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này."

Như vậy, bạn của bạn đang trong thời gian thử thách án treo nhưng lại phạm thêm tội đánh bạc, là tội mới trong khi đang chấp hành thời gian thử thách án treo, do vậy, Tòa án sẽ buộc bạn của bạn chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Dẫn chiếu đến Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội đánh bạc như sau:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Như vậy, trong trường hợp này, do Luật sư không biết bạn của bạn đánh bạc với số tiền được thua là bao nhiêu, vì 50 triệu mà Bạn nói là toàn bộ số tiền của nhiều người mà không xác định được cụ thể hành vi của từng người. Do đó, về mức hình phạt mà bạn của bạn phải chịu phạt lần này là như thế nào còn phải phụ thuộc vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Nếu có tội thì bạn ấy sẽ phải chấp hành thêm 06 tháng tù của bản án trước và hình phạt của bản án sau này.

Tùy vào tính chất, mức độ của hành vi cũng như căn cứ vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì Hội đồng xét xử vụ án sẽ ra mức hình phạt tương xứng, đồng thời, tổng hợp hình phạt cho bạn của bạn theo Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Khái niệm cải tạo không giam giữ ? án treo ? Phân biệt hình thức cải tạo không giam giữ và án treo theo quy định pháp luật

4. Giảm thời gian thử thách án treo?

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh trai tôi đã làm đơn xin xét giảm thời gian thử thách và được UBND xã thành lập Hội đồng xem xét. Anh tôi nộp biên bản xác nhận lập công như: báo án mua bán sử dụng ma túy cho công an huyện bắt qua tang (2 vụ); 1 biên bản tham gia cứu vụ hỏa hoạn cứu khỏi thiệt hại hàng tỷ đồng cho gia đình công dân kèm thêm 1 biên bản và Giấy chứng nhận gia đình văn hoá do UBND thành phố cấp.

Nhưng đội thi hành án công an chỉ đồng ý giảm 12 tháng, không cho giảm hết thời gian còn lại. Vậy xin hỏi: Gia đình và anh trai tôi muốn xin xoá hết thời gian thử thách còn lại có được không? Nếu được thì dựa trên văn bản nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 về án treo thì người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:

- Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

- Có nhiều tiến bộ được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm pháp luật, các nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động sản xuất, bảo vệ an ninh Tổ quốc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.

- Được Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.

- Mỗi năm người được hưởng án treo chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ 01 tháng đến 01 năm. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên. Trường hợp người được hưởng án treo đã được cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, nhưng không được Tòa án chấp nhận, nếu những lần tiếp theo mà họ có đủ điều kiện thì Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo tiếp tục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho họ.

Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách còn lại. Trong đó:

+ Lập công là trường hợp người được hưởng án treo có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng của nhà nước, tập thể, công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có sáng kiến được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, chiến đấu, công tác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, xác nhận.

+ Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên có kết luận là người được hưởng án treo đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.

Căn cứ vào quy định trên, người được hưởng án treo phải bảo đảm thực tế chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo mà Tòa án đã tuyên và đáp ứng các điều kiện nêu trên. Tuy nhiên, mỗi năm người được hưởng án treo chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ 01 tháng đến 01 năm, tức tối đa giảm thời gian thử thách là 12 tháng trong 01 năm, do vậy, kể cả anh của bạn có nhiều công lao lớn, lập công nhưng cũng không được phép giảm hết thời gian thử thách còn lại. Pháp luật hiện hành chưa có quy định về việc giảm hết thời gian thử thách án treo luôn trong một lần, nên nếu gia đình bạn muốn giảm hết thời gian án treo còn lại của anh bạn thì phải cung cấp được các giấy tờ, tài liệu chứng minh về việc anh bạn đáp ứng các điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách án treo nêu trên.

>> Xem ngay: Khái niệm án treo và điều kiện được hưởng án treo ?

5. Xin xét giảm và xóa thời gian thử thách trong án treo?

Kính chào luật sư, tôi xin được hỏi một vấn đề sau: anh tôi bị phạt tù 03 năm cho hưởng án treo quyết định bản án có hiệu lực từ tháng 11/2013. Trước khi phạm tội anh tôi là viên chức nhà nước và là Đảng viên, không có tiền án tiền sự, phạm tội làm nhục người khác và tội vu khống.

Trong khi phạm tội anh tôi bị bệnh tâm thần, có kết luận của hội đồng pháp y trung ương kết luận là bị rối loạn tâm thân không làm chủ được hanh vi nên phạm tội, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử anh tôi 03 năm tù và cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Anh tôi đã thực hiện xong quyết định hình phạt và có giấy chứng nhận 2 lần lập công của công an huyện và công an thị trấn nơi anh tôi cư trú, bản thân anh tôi có huy chương, huân chương. Vậy cho tôi hỏi anh tôi muốn làm đơn xin xét giảm và xoá thời gian thử thách được không? Xin luật sư tư vấn giúp, xin trân trọng cảm ơn!

 Xin xét giảm và xóa thời gian thử thách trong án treo ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về án treo và Điều 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 về án treo thì nếu anh của bạn muốn được xóa giảm thời gian thử thách thì anh bạn cần đáp ứng điều kiện là đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo và lập công theo quy định:

"Lập công là trường hợp người được hưởng án treo có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng của nhà nước, tập thể, công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có sáng kiến được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, chiến đấu, công tác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, xác nhận."

Vì vậy, nếu việc anh của bạn lập công thỏa mãn quy định nêu trên thì anh bạn hoàn toàn có thể làm đơn xin xét giảm hay rút ngắn thời gian thử thách án treo, cũng như các giấy tờ, tài liệu chứng minh về việc lập công để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền rút ngắn thời gian thử thách án treo theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo nội dung: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại

6. Tư vấn về thời gian thử thách khi hưởng án treo?

Thưa luật sư, em bị xử phạt về tội cướp giật tài sản nhưng được tòa án cho hưởng án treo 01 năm 06 tháng và 02 năm 04 tháng thử thách. Vậy cho em hỏi thời gian thử thách được tính bắt đầu từ khi tuyên án hay phải xong 01 năm 06 tháng án treo rồi mới thử thách? Mong giúp đỡ của luật sư, em xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về thời gian thử thách khi hưởng án treo?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định thống nhất thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được xác định như sau:

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Như vậy, đối với vụ án của bạn, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là khi tuyên án (trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị) mà không phải là sau khi hết thời hạn hưởng án treo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê