Sau đó, ĐTV đó cho cháu xem bản hỏi cung (cháu không nhớ chính xác tiêu đề ạ) giữa bên điều tra và em trai cháu, rồi 02 bản tự khai do chính tay em cháu ghi. Nội dung đại khái là 2 bên có xích mích, rồi mấy đứa bạn bên em cháu cùng nhau đi đến tiệm net để đánh người, em cháu đi xe cùng 1 bạn và đứng ngoài tiệm (theo như lời khai của em cháu). Sau đó, ĐTV yêu cầu cháu ký xác nhận vào 2 bản tự khai của em cháu, viết Đơn bảo lãnh, đưa sổ hộ khẩu cho ĐTV đó kiểm tra, ĐTV đó thông báo rằng sẽ giữ sổ hộ khẩu, rồi trong quá trình điều tra nếu có yêu cầu sẽ liên hệ với cháu để đưa em cháu lên làm việc.
Cháu có vài vấn đề thắc mắc như sau ạ:
+ ĐTV đó giữ sổ hộ khẩu gốc của nhà cháu như vậy là đúng pháp luật không ạ? Nếu đúng thì mục đích của việc giữ lại là gì ạ?
+ Lúc xem 2 bản tự khai, bản đầu tiên em cháu trình bày có nói đến việc em cháu và bạn nó bị đối tượng khởi kiện trên đánh gây thương tích, nhưng nó bỏ qua chuyện (bản viết này kết thúc rất kỳ lạ, không có dòng ghi:...điều khai là đúng sự thật...chịu trách nhiệm trước pháp luật; sau khi về nhà ba mẹ hỏi lại, cháu mới sực nhớ phía sau có những dòng trống mà không có gạch chéo bỏ đi - không biết điều này có nguy hại gì không ạ?) Bản tự khai thứ 2 em cháu cũng ghi lại những điều giống bản 1, nhưng lược bỏ đi chuyện em cháu bị đánh, chỉ trình bày sự việc, và kết thúc là dòng ghi:...chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi cháu hỏi vì sao lại có 2 bản tự khai, ĐTV đó nói bản đầu viết không rõ nên viết lại. (điều này càng làm cháu nghi ngờ về sự kết thúc không hợp lý của bản 1)
+ Nếu bị khởi kiện, gia đình cháu phải giải quyết như thế nào ạ? Nếu như hòa giải, bồi thường, bên khởi kiện có thể đợi đến lúc em cháu đủ tuổi thành niên để kiện lại để em cháu phải đi tù không ạ? Gia đình cháu có thể kiện bên kia tội gây thương tích không ạ? (về bằng chứng chỉ có video quay lại cảnh em cháu bị đánh, nó giấu gia đình nên không đi bệnh viện không có giấy chứng thương ạ)
Rất mong Luật sư giúp cháu ạ! Trân trọng kính chào!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời: 

 

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:
I. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Bộ luật tố tụng hình sự 2003; 

Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009);

II. Nội dung tư vấn:
 - Việc giữ lại sổ hộ khẩu của Điều tra viên có đúng không?
Hiện nay pháp luật không có quy định nào đề cập tới vấn đề phải nộp sổ hổ khẩu bản chính như trường hợp của bạn, Vì vậy, không thể kết luận được việc cầm giữ này có hợp pháp hay không. Tuy nhiên để phục vụ cho công tác điều tra thì việc làm này của Điều tra viên có thể được chấp nhận.
- Một số thắc mắc về cách ghi biên bản lời khai?
Do bạn chưa cung cấp ngày xảy ra sự việc nên không thể xác định được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sẽ được áp dụng cho nên chúng tôi sẽ tư vấn bằng cả hai luật. Theo Nghị quyết 144//2016/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự sẽ lùi hiệu lực từ ngày 01/7/2016 cho tới Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành và được áp dụng những quy định của Bộ luật này mà có lợi cho người phạm tội
+ Điều 95-Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Điều 133-Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.

Biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.

2. Biên bản phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ.

Trường hợp người tham gia tố tụng không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.

Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.

Trường hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.

Điều 132-Bộ luật tố tụng hình sự 2003; Điều 184-Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về biên bản hỏi cung như sau:

1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.

Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.

2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.

3. Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch; người phiên dịch phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.

Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của bị can.

4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Với quy định này nhận thấy rằng việc ghi biên bản lời khai phải theo mẫu thống nhất về ghi biên bản. Theo đó kết thúc mỗi biên bản phải có dòng chữ với nội dung biên bản này đã được lập xong kết thúc vào hồi....giờ và đọc cho những người có liên quan cùng nghe..... Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp việc ghi biên bản lời khai của Điều tra viên như vậy là không đúng.
 + Mặt khác, do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ không xác định được tuổi cụ thể của em bạn dưới 18 tuổi là bao nhiêu? 14 tuổi hay 16 tuổi....Bởi mỗi độ tuổi khác nhau pháp luật lại có những quy định khác về hỏi cung, lấy lời khai. Điều 421-Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 421. Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất

1. Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

2. Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ.

Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự.

3. Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa, người đại diện.
Khi hỏi cung người từ đủ 14 tới 16 tuổi phải có mặt của gia đình, người giám hộ trừ trường hợp người này không có gia đình hoặc gia đình từ chối tham gia hoặc vắng mặt có lý do chính đáng. Điều này xác định rằng việc lấy lời khai đối với em bạn có hợp pháp hay không.
+ Như vây, trong biên bản ghi lời khai mà thiếu những nội dung và hình thức trên sẽ gây ảnh hưởng bất lợi tới em bạn. Chẳng hạn không ghi ngày tháng lập xong thì rất có thể bản lấy lời khai sẽ được viết lại; không có người giám hộ, đại diện thì chắc chắn quyền lợi của em bạn không được bảo đảm do yếu tố tâm lý lứa tuổi,...; .....
- Cách giải quyết khi bị khởi kiện và có bị khởi kiện sau khi em đã thành niên?
Để giải quyết được vấn đề này cần phải xác định được tuổi của em trai bạn, bởi liên quan tới vấn đề cần giải quyết sau đây:
+ Nếu gia đình bị hại khởi kiện bằng một vụ án dân sự đòi bồi thường thì theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xác định có lỗi, có thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường nhưng có xem xét tới lỗi của bị hại. Tức là em bạn hoặc gia đình bạn phải bồi thường. Nếu em bạn dưới 16 tuối thì gia đình bạn phải bồi thường, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì được lấy tài sản của em bạn (nếu có) để bù đắp vào phần thiếu; nếu em bạn trên 16 tuổi thì phải tự bồi thường bằng tài sản của mình (nếu có) và phần còn thiếu sẽ được lấy tài sản của cha mẹ để  bồi thường. Tuy nhiên để bớt những khiếu kiện không đáng có xảy ra chúng tôi góp ý với gia đình bạn nên gặp gỡ gia đình bị hại để thương lượng bồi thường, không khởi kiện.
+ Xác định em bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Thông tin bạn cung cấp chúng tôi không thể xác định được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi do em bạn thực hiện và hậu quả xảy ra. Cho nên chúng tôi sẽ được ra hướng dẫn chung: Căn cứ điều 12-Bộ luật hình sự 1999,  người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm  đặc biệt nghiêm trọng. 
Như vậy, nếu em bạn mà đủ 16 tuổi thì có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điều 104-Bộ luật hình sự năm 1999; nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trong do cố ý hoặc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
+ Có bị khởi kiện sau khi em bạn đã thành niên hay không?
Theo quy định tại Điều 23-Bộ luật hình sự 1999, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm đối với tội ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội nghiêm trọng; 15 năm đối với tội rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Để có thể áp dụng quy định này, phải xác định được tuổi của em bạn vì thỏa mãn điều kiện tuổi sẽ xác định được em bạn có phạm tội hay không  và chỉ khi xác định được phạm tội thì mới áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là nếu em bạn không đủ tuổi thì sẽ không phạm tội và sau đó có khởi kiện thì em bạn cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Gia đình bạn có nên khởi kiện bên kia tội gây thương tích hay không?
Để có thể khởi kiện bạn phải có các bằng chứng để chứng minh thông qua tài liệu, chứng cứ, video, bản giám định tỷ lệ thương tích....Tuy nhiên cũng phải xác định được tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bên kia vì dù có hành vi đánh, đấm...nhưng không đủ tuổi, không có năng lực thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Từ sự việc của bạn chúng tôi thấy rằng gia đình bạn nên xem xét, đánh giá thật cẩn thận việc có khởi kiện hay không vì em bạn cũng đang ở tình trạng bất lợi. Rõ ràng thấy một điều xảy ra là khi bạn khởi kiện thì gia đình kia cũng kiện, tức là bên bào cũng gặp bất lợi. Cho nên gia đình bạn vẫn cần phải thương lượng với gia đình bên kia về sự việc.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về quốc tịch, hộ tịch và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự.