Hỏi:

1. Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc nói trên?

2. hành vi của A là hành vi gì? hình thức xử phạt như thế nào?

Cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn Luật Hình sự của Công ty Luật Minh Khuê

Luật Sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật Hình sự 2009, sửa đổi, bổ sung 2009 

- Bộ luật tố tụng hình sự

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, hành vi của A là hành vi gì và hình thức xử phạt như thế nào?

- Hành vi của A là hành vi gìhành vi của A đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, vì thông tin của bạn không cung cấp đủ nên chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp sau: 

Trường hợp thứ nhất: A là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, những người từ dưới 16 tụổi không là chủ thể của tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại các khoản 3, 4 Điều 138 BLHS. Xét các yếu tố cấu thành tội phạm của A ta thấy:

Về khách thể của tội phạm: Là quan hệ sở hữu, cụ thể là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là chiếc điện thoại IP6 của chủ sở hữu cữa hàng. 

Về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm: Hành vi cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang được sự quản lý của chủ sở hữu tài sản thành tài sản của mình

Thủ đoạn thuộc mặt khách quan của tội phạm: A đã có thủ đoạn lén lút, lợi dụng sự sơ hở của nhân viên bán hàng để tiến hành trộm cắp tài sản. 

Về mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi: A có lỗi cố ý trực tiếp khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Nghĩa là A biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác hoặc đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Về chủ thể của tội phạm: Giống như chúng tôi đã trình bày ở trên thì chủ thể của tội trộm cắp tài sản là chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự. 

Trường hợp thứ hai: A là người không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự, là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hoặc người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra. 

- Hình thức xử phạt như thế nào: Theo như chúng tôi tìm hiểu ở một số cửa hàng điện máy lớn thì giá của điện thoại IP6 sẽ rơi vào tầm từ 15-20 triệu đồng. Như vậy, hành vi của A thuộc khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về trộm cắp tài sản. Theo đó: Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đông nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Như vậy, hành vi của A có thể sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Còn trường hợp A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (A dưới 14 tuổi). Thông thường nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ có thể phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, luật xử lý vi phạm hành chính quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính như sau:

Về độ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính thì theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. (Điềm a Khoản 1 Điều 6) nên em trai bạn do mới đủ 13 tuổi nên sẽ không phải chịu phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này.

Tuy nhiên, nếu như hành vi trộm cắp tài sản của A bạn gây thiệt hại cho người bị mất tài sản thì theo quy định tại bộ luật dân sự 2005 A vẫn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người đó nếu người đó có đầy đủ căn cứ để được hưởng bồi thường thiệt hại: Khoản 2 Điều 606 Bộ luật Dân sự thì: “Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu..”

Như vậy, A sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cũng như xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nhưng sẽ phải trả lại tài sản đã trộm cắp và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra (nếu có).

Thứ hai, cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc này. Pháp luật hiện hành quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án như sau:

Điều 170. Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.

Điều 171. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

2. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Như vậy, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án này là Tòa án cấp Huyện nơi hành vi trộm cắp điện thoại của A được thực hiện. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua EmailTư vấn pháp luật hình sự qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Hình sự.