Chào luật sư! Vào 8h tối ngày thứ 7 - 30/06/2015 tôi và bạn tôi đi đến tiệm thuốc tây mua thuốc thì thấy 1 chiếc điện thoại iphone 6 để quên (tôi nghĩ là của người khác để quên vì nó nằm trên chiếc kệ nhỏ trưng bày sản phẩm giữa nhà thuốc) . Tôi chỉ bạn tôi vào nhặt. bạn tôi cầm điện thoại về nhà và mở icloud bằng số điện thoại của bạn ấy trong đêm đó đến chủ nhật bạn tôi báo cho tôi biết đt đã có thể dùng được. Trưa chủ nhật , tôi và bạn tôi bàn bạc đưa điện thoại đó cho chị ruột tôi sử dụng ( vì tôi thiếu chị tôi 5 triệu đồng) sau đó chị tôi giữ điện thoại đó nhưng cũng không dùng đến. Đến tối ngày chủ nhật bạn tôi nhận nhiều số điện thoại lạ gọi đến số mà bạn tôi đã dùng để mở icloud , nhưng người gọi đến hỏi có phải là... (tên 1 người lạ nào đó, không phải bạn tôi) nhưng do lúc đó bạn tôi đang ở ngoài đường , họ gọi liên tục nên bạn tôi tắt điện thoại của mình không nghe. Đến chiều ngày thứ 2 tiếp, công an gọi đến nói cần hỏi bạn tôi 1 số việc. Tối đó, chúng tôi cùng nhau đi đến công an phường để làm việc, họ nói có người trình báo việc mất iphone và công an dựa theo số điện thoại của bạn tôi mở icloud để kiếm ra bạn tôi, họ nói tại tiệm thuốc tây còn có camera quay lại. Tôi cùng bạn tôi đến công an trình bày sự việc, khoảng 1 tiếng sau khi chúng  tôi lên thì chị tôi mang chiếc iphone 6 trả lại cho chủ cũ nhưng công an không cho bạn tôi và tôi về nhà mà giữ lại trên phường 1 đêm và giữ chiếc điện thoại lại để chuyển lên công an quận xử lý. Tối ngày thứ 3, chúng tôi bị áp giải lên công an quận khoảng 10h đêm, họ thả chúng tôi về, nhưng giữ lại chứng minh nhân dân ( bản gốc ) Sau khi về nhà, tôi có liên hệ với chủ điện thoại hỏi thăm về việc bãi nại. Và họ nói không thưa kiện gì chúng tôi cả và sẵn sàng làm đơn bãi nại cho chúng tôi. Lúc ở công an phường, công an nói là chỉ cần giao trả lại điện thoại rồi hòa giải giữa đôi bên là xong xuôi mọi việc nhưng sau đó hồ sơ của chúng tôi lại được chuyển ra quận và chúng tôi và người mất điện thoại không được tiếp xúc nhau lần nào cả. Từ ngày đó 02/07/2015, họ mời tôi lên 2 lần để lấy lời khai và mời bạn tôi 1 lần lấy lời khai ( trước đó tại phường chúng tôi đã khai 2 bản) và lần cuối tôi lên là vào ngày 13/08/20115. Những lời khai của chúng tôi hoàn toàn trùng khớp và y như mọi chuyện xảy ra. Sau khi ra về người công an đó còn bảo chúng tôi không được đi đâu xa và lâu để chờ lệnh khởi tố của tòa về tội trộm cắp tài sản. Đến ngày 06/11/2015, 1 người công an gọi điện thoại cho bạn tôi gọi lên công an quận tiếp tục làm việc tiếp lần 2. ngày 09/11/2015 bạn tôi lên làm việc tiếp thì cũng hỏi lại y nhu những chuyện trước giờ đã hỏi, và bạn tôi cũng trả lời y như cũ. Rồi sau đó , đưa giấy mời cho tôi vào ngày 11/11/2015 , trong giấy ghi rằng " điều tra về việc chiếm giữ tài sản trái phép" . Vụ việc của chúng tôi do Đội điều tra tổng hợp thực hiện Tôi xin hỏi luật sư : 1) Tôi cùng bạn tôi có phạm phải tội " Chiếm giữ trái phép tài sản " hay không ? 2) Thời hạn để công an điều tra vụ việc là bao lâu ? Vì tôi có đọc trong luật quy định là 4 tháng ( nhưng không rõ là từ ngày nào) 3) Công an giữ CMND bản gốc của chúng tôi kể từ ngày đó đến nay không hoàn trả, chúng tôi có hỏi nhưng ai điều tra cũng đi lục kiếm rồi nói không biết ở đâu. Tôi nên làm gì để có lại CMND của mình? 4) Nếu bị buộc tội chúng tôi sẽ lãnh mức hình phạt như thế nào? Xin chân thành cám ơn luật sư

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Khuê. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Nội dung phân tích:

Điều 138 Bộ luật hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:
Điều 138. Tội trộm cắp tài sản 
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.
Thứ nhất, hành vi của bạn có cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản không?
Theo như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bạn và bạn của bạn khi đi đến hiệu thuốc tây đã thấy một chiếc điện thoại iphone 6 để quên và 2 bạn đã cầm chiếc điện thoại đó về. Việc các bạn mang chiếc điện thoại đó về nhà mà biết rõ đó không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng đã cố ý dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình một cách lén lút  lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bạn có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự chứ không phải tội chiếm giữ trái phép tài sản. Hành vi của bạn chỉ cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản khi bạn cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản nhưng khi lên cơ quan công an bạn đã gọi cho chị của bạn mang chiếc điện thoại đó trả cho chủ sở hữu của nó chứ không có hành vi cố tình không trả lại tài sản nên không cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản.
Thứ hai, về thời hạn điều tra vụ án hình sự.

 Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Mặt khác, hành vi của bạn có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự với khung hình phạt cao nhất là đến 3 năm thì đây được coi là tội ít nghiêm trọng (theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự) thì thời hạn điều tra vụ án này có thể kéo dài không quá 02 tháng, trong cả trường hợp cần phải gia hạn điều tra thì thời hạn điều tra được gia hạn 1 lần và không quá 02 tháng. Như vậy, tổng thời hạn điều tra cho vụ án trên có thể kéo dài trong 4 tháng kể từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Thứ ba, bạn cần phải làm gì để lấy lại chứng minh thư nhân dân? 
Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bạn đã nộp chứng minh thư nhân dân của 2 bạn cho cơ quan công an, giờ 2 bạn muốn lấy lại thì sẽ yêu cầu người  đã thu giữ chứng minh thư nhân dân của bạn để trả lại cho bạn. Trong trường hợp người đã thu giữ chứng minh thư của hai bạn không trả lại chứng minh thư thì bạn có thể khiếu nại lên thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác.
Thứ tư, trong trường hợp bị buộc tội 2 bạn sẽ bị lãnh mức án như thế nào?
Trong trường hợp bạn bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản thì khung hình phạt cao nhất có thể áp dung là đến 3 năm tù theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.