Tôi muốn khởi kiện bạn tôi doanh nghiệp về tội: Lừa đảo, lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản người khác để lấy lại sổ đỏ được không ? - Nhưng giữa tôi và bạn tôi không làm giấy tờ mượn, mà chỉ nói mồm mượn một tháng rồi trả ( do quá tin tưởng bạn thân, nên bị lừa ). Ngoài tôi còn > 10 người nữa cũng bị lừa như vậy với số tiền hàng trăm tỷ đồng.... . Tôi có thể khởi kiện anh ta để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không ? Và tôi phải làm như thế nào?

Rất mong quý luật sư tư vấn, nếu có thể khởi kiện vụ lừa đảo này cho tôi. Tôi xin chịu toàn bộ chi phí nếu thành công. ( Trong vụ này có nhiều sai phạm của cán bộ ngân hàng + công chứng là mang tất cả giấy tờ về cho nhà tôi ký tại nhà mà không cần phải ra văn phòng công chứng, không đọc rõ cho chúng tôi điều khoản, khoản tiền vay 2.5 tỷ ) lúc đầu bạn tôi bảo đứng ra bảo lãnh cho anh ta vay 1 tỷ, nhưng trên hồ sơ bảo lãnh là 2.5 tỷ sau này nhà tôi mới biết.

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sựgọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Luật sư tư vấn:

1/ Bộ luật hình quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm :

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Dấu hiệu nhận biết của tội này là hành vi cố ý dịch chuyển 1 cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm, sự tin tưởng, tình cảm, quen biết. Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và kết quả là người phạm tội có quyền về tài sản một cách hợp pháp. Như vậy trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt, người phạm tội đã có tài sản hợp pháp bằng một hợp đồng đây là điểm khác biệt với các tội phạm khác, người phạm tội chỉ có thể có tài sản sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt. Sau khi có tài sản người phạm tội đã không thực hiên nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn: Gian dối; bỏ trốn; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Chủ thể của tội phạm này là người đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.

Như bạn cung cấp thì người bạn của bạn lợi dụng sự tin tưởng đã có các hành vi mượn tài sản của bạn cụ thể ở đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng bảo lãnh để có tài sản của bạn một cách hợp pháp, số tiền bảo lãnh thay đổi so với thỏa thuận do sự gian dối cùng với nhân viên ngân hàng, nghĩa vụ phải thực hiện đối với tài sản cũng không được người bạn đó thực hiện dẫn đến không còn khả năng trả lại tài sản. Vì vậy chúng ta có căn cứ để nhận định rằng người bạn này có hành động mang dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2/ Trình tự thủ tục tiến hành được quy đinh trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

Bạn có thể thông báo cho một trong các cơ quan dưới đây:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi tiếp nhận tin báo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án và tiến hành điều tra nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Trong trường hợp này, bạn sẽ không phải nộp phí cho cơ quan tiến hành điều tra, truy tố hay xét xử vì đây là trách nhiệm của họ đã được pháp luật quy định:

"Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.
Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hình sự.