- Tôi là cán bộ tín dụng;

- Tháng 02/2008 tôi trình cấp một hạn mức tín dụng cho công ty 50 tỷ;

- Tài sản đảm bảo là Lô hàng trong kho có bảo vệ của bên thứ 3.

- Kí hợp đồng 3 bên về việc giữ hàng trong kho.

Công ty bảo vệ có trách nhiệm giữ hàng 24/24, chỉ được cho lấy hàng ra khi có lệnh giải chấp từ ngân hàng

- Thời hạn hạn mức tín dụng từ 02/2008 đến 02/2009 - Đến 02/2009 tôi nghỉ việc và bàn giao đầy đủ hàng hóa và hồ sơ công ty có xác nhận của người nhận bàn giao và trưởng phòng - Dự nợ lúc đó là 28 tỷ( gồm 10 khế ước từ số 1 đến 10)

- Sau khi tôi nghỉ việc, các cán bộ quản lý công ty khác trình duy trì hạn mức tín dụng của công ty do hết thời hạn hạn mức, Và Giải ngân thêm 10 khê ước nữa từ Khế ước 11 đến khế ước 20.

- Và công ty đã tất toán 10 khế ước từ 01 đến 10 do tôi trình giải ngân - Và các khế ước từ 11 đến 20 do người khách trình giải ngân đã bị quá hạn không có khả năng thu hồi

- Sau đó Ngân hàng gửi đơn tố cáo lên Cơ quan chức năng khởi kiện công ty về việc lừa đảo chiếm đoạt 10 khế ước nhận nợ từ 11 đến 20.

Cho tôi hỏi: Trong trường hợp như vậy: Các khế ước nhận nợ do tôi trình giải ngân đã tất toán hết, Hạn mức tín dụng do tôi trình đã hết hạn và đã được người khác trình duy trì, tái cấp. Và tôi cung đã bàn giao đầy đủ có biên bản bàn giao. Vậy tôi có phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc quá hạn (lừa đảo chiếm đoạt) của công ty hay không?

- Căn cứ theo điều 179 của BLHS hay điều luật nào? Kinh mong luật sư trả lời, xin cảm ơn quí luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự gọi:  1900.6162

 

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý: 

Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009.

Bộ luật hình sự năm 2015

2. Nội dung phân tích:

Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm”.

Khái niệm: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

2.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2.2. Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

2.3. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Tuy nhiên cần lưu ý: Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Như vậy, bạn có thể căn cứ vào những phân tích trên đây để biết mình có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi này không. Bởi trong thư bạn không nói rõ về mặt chủ quan, ý chí, mục đích, mong muốn của bạn khi thực hiện các hành vi trên nên chúng tôi chỉ có thể trao đổi với bạn như sau: Nếu bạn biết rõ hành vi của công ty mình là dùng thủ đoạn gian dối, cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của ngân hàng và giúp sức thực hiện hành vi đó thì bạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp bạn không có hành vi gian dối, không có mục đích chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý thì bạn không phạm tội danh này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê