Tuy nhiên sau khi trốn 1-2 ngày thì tôi bị bắt và về nước (khi tôi bị bắt về nước thì vẫn còn trong thời gian đi du lịch). Số tiền đã đưa cho người môi giới chưa đòi được. Vậy xin hỏi luật sư, trong trường hợp này người môi giới bị xử lý như thế nào ? Làm thế nào để đòi lại được số tiền đã đưa cho người môi giới ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật Hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

- Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

- Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về tổ chức điều tra hình sự

2. Nội dung tư vấn:

Theo nội dung thư hỏi của bạn, vì bạn đã quá tuổi đi lao động tại nước ngoài nên bạn đã nhờ công ty môi giới "trá hình" cho bạn sang nước ngoài bằng cách làm thủ tục đi du lịch, rồi sau đó trốn ở lại Hàn Quốc lao động. Phía bên môi giới có hứa là nếu bạn bị quay trở về Việt Nam thì họ sẽ hoàn trả 100% tiền đã đưa ban đầu. Tuy nhiên, khi bạn mới trốn 1-2 ngày thì bị bắt và phải về nước thì họ lại không chịu trả số tiền như đã hứa cho bạn. Trong trường hợp này, bạn có thể lựa chọn một trong các cách giải quyết sau đây:

Một là, bạn có thể yêu cầu bên làm dịch vụ môi giới phải hoàn trả số tiền là 200 triệu đồng. Nếu họ không tiến hành hoàn trả, bạn có thể tiến hành khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004. Nếu không có yếu tố nước ngoài trong trường hợp của bạn thì tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi tổ chức làm dịch vụ (bị đơn) có trụ sở.

Hai là, hành vi của bên làm dịch vụ môi giới có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

“ Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.

Bạn có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an nơi công ty này đặt trụ sở để được giải quyết, kèm theo đó là các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp như giấy viết tay biên nhận tiền, biên lai bạn đã chuyển tiền của ngân hàng,...

Sau quá trình điều tra ban đầu, nếu Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định hành vi đó đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ làm thủ tục khởi tố vụ án. Nếu có hành vi  bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ phát lệnh truy nã.

Theo khoản 1 điều 11 Pháp lệnh Về tổ chức điều tra hình sự năm 2004 về Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân quy định: “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân.”

Như vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện là Cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự.