Lúc đầu Nhật nói chỉ cần đưa một tờ bảng điểm photo, sau đó nói giá là 100 triệu nhưng phải đưa trước 60 triệu khi nào có kết quả đưa nốt 40 triệu, tôi đã làm theo và đưa trước 60 triệu, sau khi cầm 60 triệu Nhật lại nói phải 130 triệu mới lo được và yêu cầu đưa đủ, tôi cũng đồng ý và làm theo. Nhưng lần sau tôi đã yêu cầu Nhật viết giấy biên nhận, nhưng Nhật nói chỉ viết giấy nhận vay tiền của Tú ( cả 2 lần tôi đưa tiền đều có Tú đi cùng ) tôi đã đồng ý nhưng có bản ghi âm ở lần giao tiền thứ 2 tức là đưa thêm 70 triệu, nhưng giấy biên nhận ghi 130 triệu. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị thi, từ khi nộp hồ sơ, ôn thi và thi, Nhật không giúp đỡ tôi bất kỳ điều gì, tôi tự học, tự làm bài và tôi tự chấm thấy điểm cũng tương đương kết quả chấm thi và kết quả tôi đã trúng tuyển. Khi tôi hỏi Nhật, Nhật nói đã giúp đỡ khi chấm điểm, nhưng trước khi có kết quả tôi thường hỏi thông tin điểm thi và kết quả Nhật đều không nhớ số báo danh của tôi và cũng không cung cấp được thông tin gì, đến ngày thông bao kết quả Nhật cũng chỉ biết trước tôi khoảng 1 tiếng, vì hội đồng tuyển sinh đưa kết quả lên mạng. Tôi cũng có biết thông tin Tỉnh tôi chấm thi đợt này rất chặt vì đã thuê 2 trường đại học có tiếng để chấm thi và chấm lại nhiều lần. Vậy trường hợp này tôi có thể kiện Nhật và Tú tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ? Và chứng cứ tôi có ( 1 bản ghi âm và giấy biên nhận ghi tên Tú ) có đủ giá trị không ?.

Rất mong tư vấn của Quý Luật sư !

Người gửi :

K.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

                                                               Tư vấn về việc lấy lại tiền chạy thi công chức ?

                                                                  Luật sư tư vấn luật hình sự gọi 1900.6162

Trả lời :

 

Chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê chúng tôi. Với thắc mắc của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau :

Căn cứ pháp lý :

Bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009 ) 

Nghị đinh 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. 

Nội dung tư vấn :

Điều 139, bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009 ) quy định về tội lừa đảo chiếm đảo tài sản như sau :

" Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm ”.

Dựa vào quy định tại điều 139, ta thấy :

Dấu hiệu pháp lí:

Về mặt khách quan : Hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt, giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối được hiểu là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội .

Về mặt chủ quan: người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.

 Ngoài ra, cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn bao gồm dấu hiệu về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt. Cụ thể, theo điều 139 thì tài sản chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên; Hoặc dưới hai triệu đồng nhưng phải thuộc một trong các trường hợp :

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;

- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Như vậy, nếu một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên thì có thể kết luận họ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139, bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009 ).

Theo đó, với thông tin mà bạn đưa ra, các giấy tờ về việc giao nhận tiền giữa bạn và Nhật với tổng số tiền là 130 triệu thỏa mãn dấu hiệu về giá trị tài sản. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nếu chỉ dựa vào việc Nhật không nhớ số báo danh của bạn hay việc bạn tự chấm thi và thấy sát với điểm của mình và hội đồng chấm thi là các trường đại học có tiếng mà cho rằng Nhật và Tú đã có hành vi gian dối là chưa có căn cứ. Do đó, vì thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chưa có đủ căn cứ về dấu hiệu tội phạm để khẳng định Tú và Nhật có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không.

Bạn có thể làm đơn khởi kiện Tú và Nhật ra tòa với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tú và Nhật có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, điều 15, nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình :

" Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

...

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; "

Trong trường hợp căn cứ vào đơn khởi kiện và những chứng cứ mà bạn cung cấp, nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tòa án sẽ chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra và thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. 
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.