Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Bộ luật dân sự năm2015.

Nội dung giải đáp:

1. Luật hình sự quy định thế nào về tội cho vay nặng lãi

Thế nào là hành vi cho vay nặng lãi ? Hành vi cho vay lãi cao khi nào thì bị truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện nay ? và các vấn đề liên quan sẽ được luật sư tư vấn cụ thể:

Hành vi cho vay nặng lãi:

Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất."

- Như vậy, mức lãi suất theo thỏa thuận trong giao dịch dân sự bị khống chế ở mức tối đa 20%/năm.

- Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 20% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay lãi nặng

Tội cho vay nặng lãi:

Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất154 quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên155, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định của điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 5 lần trở lên;

Thứ hai: Đã thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Ví dụ: Bạn cho vay với lãi suất 9%/tháng. Như vậy, tính theo năm là 108%/năm. Đối chiếu với quy định đã vượt quá lãi suất 20%/năm.

Trường hợp 1, số tiền bạn thu được chưa đến 30 triệu và chưa có tiền án tiền sự về tội này thì chưa cấu thành tội cho vay lãi nặng;

Trường hợp 2, số tiền bạn thu được chưa đến 30 triệu đồng, bạn có tiền án, tiền sự và chưa được xóa án tích thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội cho vay lãi nặng;

Trường hợp 3, số tiền bạn thu lợi được từ 30 triệu đồng trở lên sẽ bị truy cứu TNHS về tội cho vay lãi nặng;

Trên đây là quy định của pháp luật về cho vay nặng lãi và tội cho vay nặng lãi.

2. Công ty tài chính cho vay nặng thì lãi tôi có phải trả tiền không ?

Luật sư tư vấn:

Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền như sau:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả"

Như vậy, theo quy định của pháp luật, việc trả tiền là nghĩa vụ nếu bạn có vay nợ. Việc trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng hạn và đúng phương thức các bên đã thỏa thuận. Nếu bạn cố tình không trả, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản.

Về vấn đề công ty tài chính có thực hiện hành vi cho vay lãi nặng hay không, bạn có thể đối chiếu với câu hỏi đầu tiên để xác định trường hợp của mình. Nếu có dấu hiệu phạm tội, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an cấp quận, huyện nơi công ty có trụ sở.

3. Lãi suất cho vay của tiệm cầm đồ

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi vay lãi của một hiệu cầm đồ với số lãi 5000 đồng/1triệu/1ngày . Xin hỏi với số lãi như vậy thì người cho vay có vi phạm pháp luật không ạ !

=> Lãi suất 5.000/1 triệu/1 ngày tương đương lãi suất là 0,5%/ngày mà lãi suất quy định là 0,055555556%/ngày (gấp khoảng 9 lần). Tuy nhiên, cần đối chiếu với quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự nêu trên để xác định các dấu hiệu khác của hành vi cho vay lãi suất cao của tiệm cầm đồ có đủ để bị truy cứu TNHS hay không.

4. Đang vay trả góp thì bị tạm giam có phải trả tiền không?

Thưa luật sư, Cho em hỏi: Ngày 07/3/2016 chồng em có mua 1 điện thoại trả góp tại thế giới di động, đã trả được 2 tháng, nhưng mới trả được 2 tháng thì bị bắt và đang tạm giam chờ xử, nay bên ngân hàng cho vay trả góp họ đến nhà đòi và nói sẽ đâm đơn khởi kiện. Em đang rất hoang mang vì thật sự em k có khả năng để trả thay chồng khoản nợ này. Vậy luật sư cho em hỏi là chồng em đang bị bắt như thế thì liệu có bị kiện và phải chịu thêm án ( án chồng án ) nữa k ạ.

=> Trường hợp này bạn có thể xin giấy xác nhận của cơ sở tạm giam về việc chồng bạn đang bị tạm giam và không có khả năng trả nợ. Lúc này bạn làm đơn xin tạm ngưng việc thực hiện hợp đồng vì chồng bạn có lý do chính đáng không thể trả tiền đúng hẹn được.

Nếu chồng bạn không trình bày được lý do chính đáng mà đến thời hạn trả nợ không thanh toán thì chồng bạn có thể bị khởi kiện vì không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

5. Người vay tự trả lãi cao hơn quy định của luật có bị truy cứu TNHS?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi cho một người bạn vay tiền và người đó tự trả lãi cho tôi là một triệu là một trăm ngàn đồng trên tháng. Nhưng này người đó đã bỏ trốn vậy nếu tôi đưa ra toà thì tôi có vi phạm pháp luật không và bị xử phạt như thế nào?

Đối chiếu với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất cho vay bạn đang được nhận là 120%/năm. Xét về lãi suất đã gấp 6 lần lãi suất được phép thỏa thuận. Bạn có dấu hiệu thứ nhất của tội cho vay lãi nặng. Nếu:

- Số tiền bạn thu được chưa đến 30 triệu và chưa có tiền án tiền sự về tội này hoặc đã được xóa án tích thì chưa cấu thành tội cho vay lãi nặng => Bạn có thể tố cáo người vay tiền của bạn về tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Nếu số tiền bạn thu được chưa đến 30 triệu đồng, bạn có tiền án, tiền sự và chưa được xóa án tích thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội cho vay lãi nặng;

- Nếu số tiền bạn thu lợi được từ 30 triệu đồng trở lên sẽ bị truy cứu TNHS về tội cho vay lãi nặng.

6. Các câu hỏi về lãi suất

Kính gửi luật sư, ngày 3/11/2014 em có ký kết hợp đồng vay vốn với tổ chức tổ chức vay 50tr với lãi suất 32%/năm, như vậy có vi phạm là cho vay nặng lãi không ạ. Hiện tại gia đình em không còn khả năng chi trả nữa mà họ lúc nào cũng thúc ép khiến gia đình em luôn gây vào cảnh lục đục do không có tiền trả ? Rất mong luật sư tư vấn giúp em. Em xin trân trọng cám ơn.

Trả lời:

Đối chiếu với các quy định của pháp luật nêu trên, mức lãi suất 32%/năm chưa cấu thành tội cho vay lãi nặng. Tuy nhiên, nếu khởi kiện ra Tòa, Hội đồng xét xử sẽ không chấp nhận mức lãi suất này và ấn định 20%/năm.

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi tôi cho cô bạn vay với số tiền 35.000.000 tr lãi xuất 8% 1 tháng, vậy tôi có bị truy tố cho vay nặng lãi không? Mà giờ cô này trốn đi bây giờ tôi muốn thưa cô này phải làm như thế nào? và tôi không có chứng cứ? Tôi xin chân thành cảm ơn !

=> Mức lãi 8%/tháng thì chưa cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định ở trên. Trường hợp này nếu đã đến thời hạn trả nợ mà bên kia không thanh toán cho bạn thì bạn có thể viết đơn khởi kiện bên đó ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú. Hoặc là tố cáo bên kia với tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, với hành vi là bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này bạn phải có giấy tờ chứng minh được rằng bên kia có vay tiền của chị thì bạn mới có thể khởi kiện họ được. Bằng chứng ở đây thì có thể là giấy vay nợ không nhất thiết phải có công chứng nhưng phải có chữ kỹ của hai bên. Trường hợp không có viết giấy vay nợ thì bạn có thể cung cấp băng ghi âm về việc giao dịch, trường hợp không có các bằng chứng trên thì bạn có thể nhờ người làm chứng nếu họ biết về toàn bộ quá trình giao dịch.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có vay số tiền 100 triệu đồng mà mỗi tháng phải đóng 10 triệu tiền lãi. Em đóng lãi hơn một năm, nhưng vì lãi suất cao quá, và công việc làm ăn khó khăn, em không có khả năng đóng lãi và trả tiền góc cho người ta. Họ nói nếu em không trả họ sẽ khởi kiện, và họ có đe doạ em. Vậy xin luật sư vui lòng tư vấn giúp em, nếu bị khởi kiện thì em phạm tội gì, và mức xử phạt có nặng không? Xin luật sư tư vấn giúp em.Em chân thành cảm ơn

=> Trường hợp của bạn tính ra thì mức lãi suất là 10%/tháng, đã vượt quá lãi suất theo quy định 6 lần về cơ bản, nếu họ đã thu lợi trên 30 triệu thì họ có thể bị truy cứu TNHS về tội cho vay lãi nặng.

7. Tìm hiểu quy định của pháp luật về việc cho vay nặng lãi, kinh doanh cầm đồ?

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất".

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay

Thưa luật sư, Em muốn làm giấy phép kinh doanh, cho vay lãi và cầm đồ ,mà không biết gì về thủ tục em nho anh chị chỉ bảo giúp.

=> Bạn có thể mở hộ kinh doanh, tham khảo về việc đăng kí kinh doanh tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và bạn cần tuân thủ quy định về lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự.

Thưa luật sư, tôi có đi vay nặng lãi của công ty chuyên cho vay tiền. Khi đến vay người ta đưa tôi 1 mẫu đơn là công ty đó đưa tiền nhờ tôi mua xe hộ nhưng thực chất là vay lãi 5nghìn/triệu/ngày. Tôi đã trả và còn nợ 10 triệu nữa. Hiện tại tôi chưa có tiền mà người đó báo công an thi tôi sẽ bị làm sao. Mong luật sư giải đáp cho tôi. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về Hợp đồng vay tài sản như sau:

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Ngoài ra Điều 466 có quy định:

"Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý"

Như vậy, bên mượn tài sản phải có nghĩa vụ trả lại tài sản theo thỏa thuận đã cam kết với bên cho vay/mượn. Nếu bạn không trả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tội Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả"

Vì vậy, để tránh trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này, bạn không nên bỏ trốn, trong trường hợp bạn chưa có khả năng trả nợ bạn cần thỏa thuận lại với bên cho vay. Nếu từ hợp đồng vay này sau đó bạn có hành vi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản này thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Chào luật sư. Hiện tại là tôi có vay nặng lãi của xã hội đen,các khoản vay ngân hàng khác vào gần 4 tỷ. Nhưng hiện nay tôi không có khả năng chi trả nữa,cũng không có bất kì một tài sản có giá trị nào. Theo giấy khi vay thì không nói là vay nặng lãi, và bây giờ tôi phải bỏ đi nơi khác vì không còn khả năng trả nợ. Họ nói sẽ kiện tôi ra toà. Tôi muốn hỏi rằng nếu bị kiện theo tội của mình tôi sẽ phải chịu mức án như thế nào? Trả lời gấp giúp tôi. Xin cảm ơn

=> Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất."

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì lãi suất cho vay không được vượt quá 20%/năm.

- Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 5 lần trở lên

Thứ hai: Thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về tội này mà chưa được xóa án tích .

Như vậy, khi kiện ra tòa thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.

Tuy nhiên, anh cũng có thể bị phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 với hành vi là có được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Dấu hiệu bỏ trốn ở đây là căn cứ xác minh anh có bị truy tố về tội này không. Nếu hành vi bỏ trốn chỉ dừng lại ở mức đi khỏi nơi cư trú nhưng anh vẫn giữ liên lạc với chủ nợ và thông báo cho họ biết thì không truy cứu theo tội này.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vấn đề thắc mắc, vui lòng gọi điện theo số tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ tư vấn pháp lý trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự công ty Luật Minh Khuê.