Nhưng có một bà trưởng hội phụ nữ ở khu phố con bà ấy đòi đứng ra kiện dùm con và bác con làm chứng. Bà ấy đòi lên bệnh viện tìm lại hồ sơ cũ để đi kiện. Hiện tại con 17 tuổi. Con muốn cho đứa bé được sinh ra đoàng hoàng, có cha. Luật sư cho con hỏi:  bây giờ bà ấy có thể kiện được không? Nếu bị kiện anh ấy sẽ bị phạt như thế nào ạ? Cảm ơn quý luật sư đã đọc câu hỏi!

Người gửi: N.L.H

Luật sư tư vấn vụ kiện hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 

Bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi, bổ sung 

Bộ luật hình sự năm 2015

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch

2. Nội dung phân tích:

Theo như bạn trình bày thì năm 15 tuổi bạn có con với người đó và bạn đã đem đứa bé đi cho. Trường hợp này, hành vi của cha đứa trẻ đã cấu thành tội giao cấu với trẻ em theo quy định tại Điều 115 Bộ luật hình sự 1999

Điều 115.  Tội giao cấu với trẻ em  

1.  Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Vì người phạm tội làm bạn có thai nên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 115, người đó sẽ bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Sau khi sinh em bé thì bạn hoặc nhờ người thân đi làm giấy khai sinh cho cháu theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch như sau:

“1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh »

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê