Những trường hợp như vậy thì sau khi hành vi dâm ô kia được cơ quan có thẩm quyền truy tố thì người mẹ đó có phải chịu trách hình sự không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

2. Chuyên viên tư vấn:

Trong trường hợp một người biết được người khác đang bị cưỡng dâm, xâm hại mà không tố giác với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Theo khoản 1 Điều 19 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này”.

Theo đó, các yếu tố cấu thành tội không tố giác tội phạm bao gồm:

- Khách thế: Hành vi không tố giác tội phạm xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội.

- Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này người có năng lực trách nhiệm hình sự và phải từ đủ 16 tuổi trở lên, do tội không tố giác tội phạm là tội ít nghiêm trọng.

- Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội không tố giác tố phạm được thể hiện dưới dạng hành vi không hành động. Đó là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc một tội phạm đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện xong mà mình biết rõ.

- Mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội ở đây là lỗi cố ý. Người phạm tội không tố giác tội phạm là người phát hiện ra người khác bị xâm hại nhưng vẫn lựa chọn việc không tố giác với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Theo khoản 1 Điều 390 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

"Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

Theo điểm b khoản 1 Điều 389 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì một trong các tội phạm được quy định tại Điều này bao gồm các tội sau: Điều 123 (tội giết người); Điều 141, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 146, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi); Điều 150, các khoản 2 và 3 (tội mua bán người).

Như vậy, người nào nhìn thấy người khác là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bị cưỡng dâm mà không tố giác với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về cấu thành tội không tố giác tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Người phạm tội không tố giác tội phạm có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về các trường hơp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt đối với tội không tố giác tội phạm khi:

- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

- Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Như vậy, khi người mẹ phát hiện con mình là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bị người khác cưỡng dâm thì phải tố giác ngay hành vi phạm tội này tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp phát hiện ra hành vi đó mà không đi tố giác, cũng như không có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, đồng thởi thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội không tố giác tội phạm thì người mẹ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Từ những phân tích ở trên thì người mẹ sẽ phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật, cụ thể là hình phạt được quy định tại BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, theo đó, người mẹ có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê