Đang đi thì người B thấy có 1 người phụ nữ đang đi cùng đường, đtdđ đang để trong túi nhưng lòi ra ngoài nên bị người B để ý, người B nảy ý định muốn giật chiếc đt đo nên nói với người A hôm đó là sinh nhật của anh ta giật đt đoa để lấy tiền làm sinh nhật, trong phút giây ngắn ngủi không thể suy nghĩ được gì nên người A đã quay đầu xe lại ép sát người nữ kia để người B giật điện thoại, khi giật xong thì người bị người dân đuổi theo, bị dí rất lâu thì người A bị té nên người B chạy được, người A lấy xe chạy tiếp được quãng đường bị người dân đạp xe nên té nhưng trốn được, xe bị bắt. 

Do người A bị té bị thươg khá nặg nên khi cog an mời làm việc gia đình có nói đợi người A khỏe sẽ tự thú, người B thì bỏ trốn. Người A là học sinh, vì bị té xe nên phải nghỉ học, gia đình không khá giả, vì bị bạn xúi dục nên đã làm bậy, người A tuy nghĩ học nhưng ở nhà phụ mẹ bán hàng, rất giỏi và siêng. Người B là người có tiên án tiền sự, không đi làm, hay quậy phá, không giúp gì cho gia đình, gia đình cũng không khá giả. Người A đang bị tạm giam, người B đang trốn, người A đã hợp tác với công an để bắt người B nhưng chưa bắt được." Theo luật sư thì Người A và B sẽ bị xử phạt như thế nào? Người A có thể giảm án hoặc hưởng án treo hay khônng?

Mong luật sư trả lời sớm.

Người gửi: Nguyễn Luyến

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Mức án cho hành vi cướp tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162  

                                                 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015)

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 (Văn bản thay thế: Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2. Nội dung phân tích:

A, B sẽ bị xử phạt như thế nào

Thông qua những dữ liệu mà bạn cung cấp, chúng tôi nhận định A và B đã có hành vi cướp tài sản quy định tại điều 133 của BLHS. Điều 133 luật hình sự năm 1999, quy định về tội cướp tại sản, cụ thể: "Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."Căn cứ theo điều 20 của BLHS thì A và B là đồng phạm của nhau trong vụ án này (điều 20 quy định đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.)

Bạn có nhắc tới thông tin A đang là học sinh tuy nhiên chúng tôi không biết rõ độ tuổi cụ thể của A là bao nhiêu (độ tuổi có ảnh hưởng tới khả năng chịu TNHS quy định tại điều 12 của BLHS). 

Hình phạt mà 2 người này sẽ phải chịu. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn một vài thông tin như sau:

Điều 133 BLHS quy định:

"1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Người A đã có những hành vi như tự thú, phối hợp với công an để truy bắt B nên căn cứ theo điểm o và q khoản 1 điều 46 của BLHS, đây sẽ là 2 tình tiết giảm nhẹ cho A. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, xét xử, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể dựa vào các yếu tố như nhân thân hay hoàn cảnh phạm tội của A để xem xét tăng thêm tình tiết giảm nhẹ cho A. Với trường hợp của A, có thể sẽ được giảm án.

Người B có hành vi xúi giục A thực hiện hành vi cướp tài sản (Hành vi xúi giục người khác là hành vi của một người đã có những lời lẽ kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác làm những việc mà người xúi giục mong muốn, thường là việc không có lợi cho người bị xúi giục). Nếu, đối với trường hợp A chưa đủ 18 tuổi, căn cứ theo khoản n điều 48 BLHS thì đây là 1 tình tiết tăng nặng (xúi giục người chưa thành niên phạm tội).

Việc A có được giảm án hay hưởng án treo hay không: theo điều 60 của BLHS và điều 2 của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán về hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo thì: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù. Tuy quy định tại điều 133 thì tội cướp tài sản có mức phạt thấp nhất là 3 năm tù nhưng như chúng tôi đã nêu trên thì do chưa biết được độ tuổi chính xác cũng như giá trị của tài sản cướp được nên chúng tôi không thể có đánh giá chính xác về thời hạn tù của A. Như vậy, vấn đề A có được hưởng án treo hay không chúng tôi không khẳng định chắc chắn.

húng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn luật hình sự1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê