Bên bị hại không có đơn kiện và hai bên đã thương lượng và trả lại số tiền đó, lại là hộ nghèo theo chuẩn nghèo của chính phủ, vi phạm lần đầu.
Tôi xin hỏi kết án như vậy có nặng lắm không, tôi kính mong luật sư giúp đỡ và tư vấn cho tôi với, hiện nay đang trong 15 ngày kháng cáo, tôi không biết làm thế nào để giảm nhẹ tội.

Xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: P.N

Câu hỏi được biên tập từ  chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự  của Công ty Luật Minh Khuê.

Mức án tội cướp tài sản và tư vấn kháng cáo ? 

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê! Chúng tôi xin trả lời câu hỏi như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009.

Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

2. Nội dung trả lời:

Điều 133 BLHS quy định về Tội cướp tài sản như sau:

" Điều 133.  Tội cướp tài sản 

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Theo bạn trình bày, em trai họ của bạn đã cướp số tiền trị giá 200.000 đồng. Do đó, có thể thấy hành vi của em trai họ của bạn thuộc một trong các dạng sau: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hía trị tài sản không lớn (200.000 đồng) nên em bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 133 BLHS. Khung hình phạt là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

Như vậy, đối chiếu mức hình phạt mà Tòa án tuyên với em bạn (36 tháng tù, tương đương 3 năm tù) và khung hình phạt đối với tội cướp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS thì đây là mức hình phạt thấp nhất. Tòa tuyên án như vậy là không nặng hơn so với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay đang trong thời hạn kháng cáo, đồng thời em bạn phạm tội lần đầu và gia đình là hộ nghèo. Nếu em bạn có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 thì em bạn có thể được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật (Điều 47 BLHS). Bên cạnh đó, khi mức án không quá 3 năm tù, em bạn có thể được xem xét để được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 60.  Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm."

Do đó, nếu có đủ các điều kiện sau thì bạn có thể làm đơn kháng cáo:

Về người có quyền kháng cáo:

" Điều 231. Những người có quyền kháng cáo

Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Toà án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

Người được Toà án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội."

Thủ tục kháng cáo như sau:

" Điều 233. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị

1. Người kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

2. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm."

" Điều 234. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị

1. Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại tạm giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại tạm giam nhận được đơn."

Nếu hết thời hạn kháng cáo mà gia đình bạn chưa thực hiện việc kháng cáo thì gia đình bạn có th thực hiện kháng cáo quá hạn như sau:

" Điều 235. Kháng cáo quá hạn

1. Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng.

2. Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn."

Về thời hạn em bạn bị tạm giam:

Tội phạm mà em bạn thực hiện là Tội rất nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt là mười năm tù), do đó, theo Điều 120 BLTTHS, thời giam tạm giam và gia hạn tạm giam là:

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau:

...

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

Như vậy, thời hạn tam giam và gia hạn tối đa là 9 tháng. Tuy nhiên, em bạn bị tạm giam 11 tháng, qúa thời hạn so với quy định. Do đó, gia đình bạn có thể làm đơn khiếu nại đến cơ quan điều tra để được giải quyết và bảo vệ quyền lợi.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê