1. Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê, em có câu hỏi cần nhờ luật sư tư vấn như sau: Ngày 23/12/2015. Em có đi uống rượu và đi xem văn nghệ. Lúc xem xong em về có lùi xe và có va chạm với người đứng ở sau xe máy em

Người này có lời lẽ xúc phạm em. Em không nói gì về nhà nằm suy nghĩ thấy lời lẽ xúc phạm quá. E quay lại đấm người đó mấy cái. E đi 1 mình và không có hung khí. Tối đó người ta mang đơn kiện ra xã em có nói như thế . Bên bị hại chỉ bị xây xước nhẹ và nói em xin mấy cc mật gấu. E đã đưa 500 nghìn để bên bị hại mua về xoa bóp. Công an xã xử phạt em vi phạm hành chính. Nhưng biên bản lại đánh máy và đóng dấu công an xã. Không có biên lai cho em. Cho em hỏi biên bản vi phạm thế đúng hay sai Mức phạt 2triệu đồng cho hành vi của em đúng hay sai. Em đã kí biên bản nhưng chưa đóng phạt hạn đóng trong vòng 10 ngày. Hành vi của em có bị truy tố trách nhiệm hình sự không? Và mức truy tố là làm sao?

Kính mong luật sư giúp đỡ em. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn chưa bị truy tố trách nhiệm hình sự

Theo điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy đinh về tội cố ý gây thương tích cho người khác cụ thể như sau:

“Thương tích dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

E) Có tổ chức;

G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân."

Như vậy, bạn không thuộc các trường hợp trên nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bạn bị xử phạt hành chính theo quy định tại điều 5, Nghị quyết 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình, cụ thể mức phạt như sau:

Thứ 2: Về mức xử phạt vi phạm hành chính

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;

i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;

k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;

m) Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;

b) Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời".

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

6. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm k Khoản 3 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, trong trường hợp đánh nhau, bạn sẽ bị xử phạt hành chính với mức từ 500.000 đồng-1.000.000 đồng. Mức phạt 2.000.000 đồng là không phù hợp quy định của pháp luật.

Thứ 3: Quy định về việc xử phạt hành chính có lập biên bản

Luật xử lí vi phạm hành chính 2012 quy định về thủ tục thực hiện xử phạt hành chính như sau :

"Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.
Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.

2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt.

Điều 57. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

1. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 56 của Luật này."

Với mức vi phạm của bạn, công an xã tiến hành lập biên bản là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi bạn nộp tiền phạt theo thủ tục được quy định tại điều 78 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì mới có biên lai nộp phạt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo luật hình sự

2. Có nên khởi kiện khi có hành vi cố ý gây thương tích ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn cho em về vấn đề sau có nên khởi kiện không và nếu kiện có thắng kiện không. Ngày 9/11/2015 xảy ra vụ đánh nhau giữa em và hàng xóm nguyên nhân do nhậu chung sau đó đi chợ va quệt xe nên cãi nhau, sau đó ông đánh em 1 cái nên em đánh lại, giằng co 1 lát thì cả 2 đi về.

Sau đó em đi chợ thì ông kéo theo 2 anh em nữa là 3 người tấn công em từ phía sau, dùng gạch, đá, nón bảo hiểm đánh 1 mình em và dìm em xuống nước, lát sau em lên bờ được mọi người can ra. Em đi giám định thương tích tại bệnh viện xác định gãy xương đòn T chi phí hết khoảng 1triệu, bên kia ông cũng bị thương đi bệnh viện hết 1,3 triệu. Sau đó bố em làm đơn yêu cầu xã xử lý theo quy định pháp luật. Nhưng mãi đến 16/3/2016 xã mới mời lên yêu cầu giải hòa, bên kia cũng làm đơn yêu cầu xử lý, xã thông báo nếu không giãi hòa sẽ phạt 1.5tr tội quấy rối trật tự công cộng và yêu cầu em bồi thường 1,3 triệu tiền thuốc cho bên kia, 3 người bên kia bồi thường cho em lại 1triệu. Bố em không chịu quyết định của xã nên dự định đưa đơn qua huyện. Luật sư tư vấn giúp em xem có nên thưa tiếp không?

Em xin chân thành cảm ơn!

Có nên khởi kiện khi có hành vi cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn hình sự về hành vi gây thương tích, gọi 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, giữa bạn và hàng xóm có xảy ra mẫu thuẫn va quệt xe và đã có những hành vi đánh nhau khiến bạn bị thương tích 10%. Với trường hợp này mức độ thương tích mà bên hàng xóm gây ra cho bạn có thể khởi kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự tuy nhiên do bạn cũng có hành vi đánh người ta trước nên 2 bên sẽ tiến hành bồi thường cho nhau theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã đã can thiệp trước đó mà không nên khởi kiện. Bởi vì khi khởi kiện, hai bên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng, phải mất thêm tiền án phí, sau đó tòa án có thể sẽ căn cứ vào mức độ lỗi của 2 bên để yêu cầu bồi thường chứ không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này nếu hành vi của ông hàng xóm không gây ra cố tật nhẹ cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung liên quan: Tư vấn Luật trực tuyến về tội đánh bạc, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ?

3. Làm gì khi người nhà phạm tội cố ý gây thương tích ?

Thưa Luật sư, mẹ tôi buôn bán và có chút mâu thuẫn với người bán đối diện. Một hôm vì có mâu thuẫn nên hai bên có cãi vã. Người phía đối diện muốn đánh mẹ tôi nên đập phá hàng hóa của mẹ tôi. Mẹ tôi thấy vậy nên đã chạy ra để đánh với bà bán đối diện, rồi em của bà ta nhào đến đánh mẹ tôi. Thấy yếu thế mẹ của tôi có chạy ngược vào cửa hàng để tránh nhưng tên kia vẫn ngoan cố chạy đến vào trong để đánh bà ấy, rồi em của bà ta nhào đến đánh mẹ tôi.
Thấy yếu thế mẹ của tôi có chạy ngược vào cửa hàng để tránh nhưng tên kia vẫn ngoan cố chạy đến vào trong để đánh bà ấy. Rồi bà mới lấy con dao gọt trái cây hăm dọa để đối phương ngừng đánh và lỡ tay làm tên đó bị thương, bị thương nên hắn chạy ra ngoài (mẹ của tôi cũng bị thương sau những đòn đánh của hắn). Sau đó hai bên lại tiếp tục cãi vã qua lại. Được một lúc thì cha tôi đến, ông chỉ đứng đó để nghe tình hình không nói và động chạm gì ai thì cha của người bán đối diện không nói không ràng, chạy đến đánh cha tôi. Vì bị đánh, cha tôi đứng dậy định đánh trả lại thì ông ta ôm cha tôi để tên bị thương kia đánh ông ấy. Lúc đó em trai tôi cũng ở đó, vì thấy cha mình bị đánh hội đồng như vậy nên nó có cầm một cây kéo nhấp chỉ đâm ông kia (cha của người bán đối diện).
Sau sự việc đó công an đã đến và giàn xếp lại. Cha tôi bị thương bầm đen ở cánh tay trái của ông, ông ấy định nằm viện nhưng vì ông già kia cũng nằm cùng viện với rất nhiều người nhà của ông ta ở đó. Cha tôi vì sợ vin cháu ông ta là người thân mà đánh ông ấy nên cha tôi đã trốn viện và không có giấy chứng thương. Rồi 3 tháng sau khi sự việc xảy ra mẹ tôi bị công an mời lên tạm giam 2 tháng điều tra vì tội cố ý gây thương tích. Giờ tôi phải làm cách nào để đưa bà ấy ra càng sớm càng tốt ?
Hoặc tệ lắm là án treo đây thưa luật sư.

Làm gì khi người nhà phạm tội cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

- Vấn đề thắc mắc đầu tiên của bạn là làm cách nào để mẹ bạn ra càng sớm càng tốt, chúng tôi nhận thấy rằng phải chứng minh được mẹ bạn không có lỗi, tức là không phạm tội cố ý gây thương tích.

Điều 104, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.".

Như vậy, một hành vi chỉ cấu thành tội cố ý gây thương tích khi người đó có hành vi như đánh, đấm, đá...với lỗi cố ý và có hậu quả xảy ra. Điều đó có nghĩa nếu chứng minh được mẹ bạn không có lỗi, tức là do người em của người bán hàng đối diện chạy đến đánh mẹ bạn nên theo phản ứng của một người vừa bị đập phá đồ, vừa bị đánh nên sẽ phòng vệ nhằm loại trừ hành vi vi phạm pháp luật đó để bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe của mình nên không thể coi là có lỗi. Hoặc chứng minh qua cách giám định tỷ lệ thương tật của bị hại, theo quy định mẹ bạn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi bị hại có tỷ lệ thương tích từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1-Điều 104-Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên cách chứng minh này không khả quan, phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố may rủi nên cách thứ nhất hợp lý hơn.

Khi chứng minh được thì mẹ bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tức là không bị chịu hình phạt tù.

- Điều kiện hưởng án treo:

Trong trường hợp không chứng minh được mẹ bạn không có tội mà không muốn mẹ bạn phải chấp hành hình phạt tù thì có thể xem xét tới biện pháp án treo. Điều 60-Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 11 năm 2013 Hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo quy định cụ thể về án treo như sau:

+ Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng;

+ Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.

+ Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

+ Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

+ Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.
Nếu mẹ bạn đáp ứng được những điều kiện này thì Tòa án sẽ xem xét cho mẹ bạn được hưởng án treo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Thỏa thuận về bồi thường khi cố ý gây thương tích như thế nào ?

4. Hành vi cố ý gây thương tích trong pháp luật hình sự Việt Nam ?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi là: Vào lúc 11h ngày 06/10/2016. Tôi đang ngồi uống cafe cùng một người bạn thì bất ngờ có 2 người lạ mặt không quen biết xông vào dùng gậy đánh vào vùng đầu và mặt tôi 2 cai làm tôi ngất xiu. Sau đó đánh liên tiếp vào cổ và người tôi.Người dân xung quanh thấy thế hô lên và chạy đến thì 2 tên kia bỏ chạy để tôi nằm đó. Tôi được bạn và người dân ở gần đó đưa vào bệnh viện. Bác sĩ chuẩn đoán tôi bị vỡ gò má phải. Tôi nhập viện được 7 ngày thì ngày 13/10/2016 tôi xuất viện. 2 ngày sau tôi quay lại để khám mắt và răng thì tôi nhận được giấy chứng nhận thương tích là xây sát thái dương phải và xây xát gò má phải. Sau đó 3 lần tiếp theo đi khám tôi đều không gặp bác sĩ.
Sau đó do mặt bị biến dạng tôi có đi khám tại bệnh viện khác thì được chuẩn đoán là bị gãy xướng má phải, gẫy xương hàm trên, lệch khớp vai và cần phẫu thuật gấp. Trước khi phẫu thuật tôi đã báo cho công an và gia đình người đánh tôi biết. Sau khi phẫu thuật xong tôi được công an huyện gọi lên để đi giám định thương tích.
Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm mà người đánh tôi phải chịu ?

Hành vi cố ý gây thương tích trong pháp luật hình sự Việt Nam ?

Trả lời:

Trường hợp của bạn Hành vi của người đánh bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự vê tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015), cụ thể như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân "

Như vậy, người đánh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi trên.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: "Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự (BLHS) chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần thể chất".

Như vậy, nếu như hành vi của người đánh bạn chỉ cấu thành theo khoản 1 Điều 104 nêu trên thì chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Vì vậy trong trường hợp này nếu các bạn thỏa thuận được với nhau và bạn không yêu cầu khởi tố thì người đánh bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi xác định được đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng hình phạt sẽ do cơ quan tố tụng xem xét, quyết định. Bên cạnh việc phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật thì người đánh bạn còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định của luật dân sự năm 2015.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Cố ý gây thương tích sẽ bị xử phạt như thế nào theo Luật hình sự mới ?

5. Phạm tội giết người hay tội cố ý gây thương tích cho người khác?

Thưa luật sư tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho một việc như sau: Khoảng 12h50p ngày 22/02/2016 Nguyễn Văn A sinh năm 1994 đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị B chơi (B là người yêu của A). Ngồi chơi nói chuyện khoảng 20 phút thì B đi dọn dẹp nhà cửa còn A nằm ngủ ở giường trong phòng trọ. Đến khoảng 13h45p cùng ngày thì Nguyễn Văn C sinh năm 1992 đến khu nhà trọ trên để chơi (C vốn là người yêu cũ của chị B).
Khi đến thì thấy A đang nằm ngủ ở trong phòng B nên C đã lấy một con dao giấu sẵn trong người, cầm bằng tay phải lao vào chém một nhát vào phần đầu phía sau gáy A. Thấy vậy chị B liền lao vào, dùng hai tay nắm lấy tay phải đang cầm dao của C và lôi C ra cửa phòng trọ; anh A bị chém liền ngồi dậy, lùi vào góc tường và dùng chăn che kín người và đầu. Nhưng C vẫn tiếp tục đẩy chị B ra vào cầm dao lao lên giường đứng chém 03 nhát qua chăn vào đầu của A, tiếp đó lấy tay trái giật chăn ra và tiếp tục chém 03 nhát nữa vào vùng đầu và vai của anh A, dùng chân trái đạp vào mặt và người anh A.
Chị B tiếp tục lao vào dùng 2 tay kéo C ra sân trước cửa phòng trọ đồng thời nhờ bạn cùng khu trọ đóng cửa phòng mình lại để ngăn không cho C tiếp tục chém A. Nhưng C vẫn đẩy chị B ra, lao đến cửa phòng đẩy người bạn đang đóng cửa phòng B sang một bên, cầm dao tiếp tục lao vào chém thêm 2 nhát nữa vào đầu của A, dùng chân trái đạp 3 nhát vào mặt và người A. Sau đó C cầm dao bỏ đi. Hiện nay A đang được cấp cứu tại một bệnh viện ở Hà Nội. Nguyên nhân được xác định là do mâu thuẫn tình cảm vì trước đó chị B yêu anh C nhưng sau đó chia tay và có tình cảm với anh A nên C bực tức và trước đó khoảng 3 tháng đã có lần C tìm chặn đánh A. Xin hỏi luật sư là như trong trường hợp này thì C đã phạm vào tội gì? Điều 104 hay Điều 93? Lý do?
Xin cảm ơn luật sư !

Phạm tội giết người hay tội cố ý gây thương tích cho người khác?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để xác định C phạm tội gì thì cần phân tích các yếu tố sau:

Thứ nhất, về mặt khách quan:

- Hành vi: khi thấy A đang nằm ngủ ở trong phòng B, C đã lấy một con dao giấu sẵn trong người, cầm bằng tay phải lao vào chém một nhát vào phần đầu phía sau gáy A. Thấy vậy chị B liền lao vào lôi C ra nhưng C vẫn tiếp tục đẩy chị B ra vào cầm dao lao lên giường đứng chém 03 nhát qua chăn vào đầu của A, tiếp đó lấy tay trái giật chăn ra và tiếp tục chém 03 nhát nữa vào vùng đầu và vai của anh A, dùng chân trái đạp vào mặt và người anh A. Chị B tiếp tục lao vào dùng 2 tay kéo C ra sân trước cửa phòng trọ đồng thời nhờ bạn cùng khu trọ đóng cửa phòng mình lại để ngăn không cho C tiếp tục chém A. Nhưng C vẫn đẩy chị B ra, lao đến cửa phòng đẩy người bạn đang đóng cửa phòng B sang một bên, cầm dao tiếp tục lao vào chém thêm 2 nhát nữa vào đầu của A, dùng chân trái đạp 3 nhát vào mặt và người A. Sau đó C cầm dao bỏ đi.

C đã có hành vi dùng vũ lực (con dao, chân) để đâm, chém và đạp anh A. Dù đã bị B ngăn cản và bạn B ngăn nhưng C vẫ tiếp lục lao vào dùng dao chém A. Hơn nữa, vị chí chém của C đều là các khu vực nguy hiểm cho tính mạng như đầu, phía sau gáy. Tất cả các đợt tấn công của C đều chém vào đầu, khu vực nguy hiểm đến tính mạng của A và hành vi vô cùng nguy hiểm cho tính mạng (chém qua chăn rồi giật chăn ra và chém 03 nhát vào vùng đầu và vai).

- Hậu quả: anh A bị thương tích nhưng chưa rõ mức độ thương tích.

Thứ hai, về mặt chủ quan:

- Lỗi: C có lỗi cố ý trực tiếp. Như bạn nói, C đã có lần tìm chặn đánh A và hôm đó đến nhà B, C đã giấu sẵn con dao trong người và khi thấy A nằm trên giường, C đã lao vào chém A và dù đã nhiều lần B ngăn cản nhưng C vẫn lao vào chém liên tiếp vào khu vực nguy hiểm đến tính mạng của A, thậm chí khi A đã dùng chăn che kín người và đầu, C vẫn lao vào chém A và đẩy B ra. C thực hiện hành vi trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo và nhận thức, điều khiển được hành vi của mình. Như vậy, C đã có lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho tính mạng của A nhưng C vẫn cố thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra.

Như vậy, hành vi của C mang đầy đủ các cấu thành của tội giết người do vị trí mà C tác động đến A toàn là khu vực nguy hiểm đến tính mạng và C cố gắng thực hiện hành vi chém A của mình dù đã bị B và bạn bè ngăn cản nên không thể xác định đây là hành vi của tội cố ý gây thương tích cho người khác mà phải là tội giết người. theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự 1999( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) Tuy nhiên, chưa có hậu quả chết người xảy ra nên anh C bị coi là phạm tội giết người chưa hoàn thành.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Cố ý gây thương tích đi tù bao nhiêu năm ?

6. Hình phạt tù đối với hành vi giết người, cố ý gây thương tích ?

Thưa luật sư, một người phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, người này phạm tội giết người và bị phạt 10 năm tù thì hình phạt tổng hợp của người đó là bao nhiêu năm tù? Cảm ơn!

Hình phạt tù đối với hành vi giết người, cố ý gây thương tích ?

Trả lời:

Luật Minh Khuê tư vấn các vấn đề pháp lý về cấu thành tội phạm giết người và tội cố ý gây thương tích, và dựa vào các căn cứ pháp luật để đưa ra hình phạt cụ thể cho mỗi hành vi này.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm2009 thì:

"5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Như vậy, hình phạt trước đây của người này là phạt 2 năm tù, nhưng được hưởng án treo và đến nay lại phạm tội mới, thì lúc này, người này buộc phải chấp hành hình phạt 2 năm tù cho tội cố ý gây thương tích, và 10 năm tù cho tội giết người, tổng hợp là 12 năm tù giam.

Chào luật sư, Bạn tôi và bạn trai đã chia tay. Nhưng bạn trai của bạn tôi không muốn chia tay nên đã nhiều lần hăm doạ sẽ giết người thân và chém người thân có lần hăm doạ sẽ giết bạn tôi. Và nhiều lần bắt cóc bạn tôi, vì cô ấy sợ nên phải đi theo. Theo luật sư bây giờ bạn tôi kiện bạn trai của bạn tôi ra toà thì cần thủ tục như thế nào. Và chi phi là bao nhiêu cảm ơn luật sư

Theo quy định tại Điều 103 về tội Đe dọa giết người thì:

"Điều 103. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác."

Như vậy, trong trường hợp này, bạn của bạn có thể tố giác hành vi đe dọa giết người của người bạn trai kia tới cơ quan công an, hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nơi xảy ra hành vi để được bảo vệ quyền lợi.

Án phí hình sự thì được quy định tại Nghị quyết 10/2009 Quy định về án phí lệ phí tòa án là 200.000 đ

Thưa luật sư, cho em hỏi tình huống như sau, ngày 20/10/2015 H là công dân thái lan đi du lịch tại trung quốc đã có hành vi sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản có giá trị 290tr đồng của doanh nghiệp X đặt trụ sở tại VN. ngày 2/11/2015 tại trung quốc, H đã giết người là Q (Q là công dân VN). sau đó H bị bắt giữ. 1.vậy tội mà H đã thực hiện có thể bị truy cứu TNHS theo pháp luật việt nam không, tại sao 2. giả định sau 16 năm giết ng H mới bị phát hiện và bị bắt ở VN, thì H có phải chịu TNHS theo pháp luật hình sự Việt Nam k em cám ơn ạ

Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì:

"Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia."

Như vậy, trong trường hợp này, H là người nước ngoài, phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng đối tượng tác động và người bị xâm phạm về tài sản, tính mạng là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Cụ thể, H đã có hành vi phạm tội theo Điều 93 về tội giết người và Tội sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet theo Điều 226 Bộ luật hình sự.

H đã thực hiện hành vi phạm tội được pháp luật Việt Nam quy định, do đó H có thể bị pháp luật Thái Lan xét xử vì theo nguyên tắc quốc tịch( là nguyên tắc dựa vào quốc tịch , có thể là dựa vào quốc tịch của người phạm tội để xác định đạo luật của quốc gia nào có hiệu lực áp dụng (nguyên tắc quốc tịch chủ động) hoặc dựa vào quốc tịch của người bị hại để xác định đạo luật của quốc gia nào có hiệu lực áp dụng ( nguyên tắc quốc tịch thụ động), đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nước sở tại( nước Trung Quốc). Sở dĩ nói là “có thể “ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H là bởi B không nhất định phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra theo pháp luật Việt Nam, vì nếu áp dụng nguyên tắc lãnh thổ( là nguyên tắc mà theo đó bất kỳ ai dù là công dân của nước nào, người không quốc tịch mà phạm tội trên lãnh thổ của một nước thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự của nước đó) để truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này thì H có thể bị xét xử theo pháp luật hình sự Trung Quốc.

Gửi Luật sư. Trước đây, tôi có quen một người bạn tên mai nguyện. Hắn bịa đặt mọi chuyện về sự nghèo khổ, về gia đình, về hoàn cảnh,... để mượn tôi tiền tổng cộng là 195tr. Nay tôi biết địa chỉ nhà ở huế. Ở sài gòn thì hắn chuyển đổi nhà trọ. tôi tìm không được. Nên tôi có lên face book đăng tìm thông tin nhờ mọi giúp sự thật là hắn lừa tiền thôi. Và gặp chị hắn ở bình dương để nói chuyện, ko kết quả. Tôi có lên gmail gửi thư nói chuyện từ tình cảm, năn nỉ nhưng hắn vẫn cứ sờ sờ, trơ trẽn còn kể lễ tôi vu khống trên fb, hăm dọa nó này nọ, nên tôi có chửi hắn, hù dọa hắn... để mong hắn ra gặp mặt nói chuyện và trả tiền tôi. vì sự thật là hắn lừa tiền tôi nhưng cứ đánh trống lãng hoài giờ còn bỉ phán lại tôi trên fb nói tôi tìm trai trẻ, tham vọng kêu hắn bán đất ở quê.... Chỉ vì chữ tin mà tôi mất tiền thà hắn đàng hoàng ra nói chuyện đàng này vừa ăn cướp còn la làng. Nên tôi có viết thư gửi về bố mẹ hắn ở quê báo cho biết xử thật và hù dọa là nếu không trả tiền thì sẽ bị què, gãy tay, gãy chân tôi ko chịu, lúc đó có tiền cũng chưa chắc bình thường. Mong luật sư tư vấn giúp tôi nên làm gì lúc này, hắn đẩy tôi vào đường cùng, giờ còn hăm dọa tố tôi tội làm nhục người khác trong khi sự thật là nó lừa tiền tôi. Tôi muốn kiện ra tòa thì thủ tục thế nào, vì ở sài gòn tôi không biết địa chỉ tạm trú. Giờ tôi ko lên gmail, fb nói chuyện làm gì. tôi muốn kiện, còn tôi hù dọa vậy, hay chửi hắn "bỉ ổi,...." có bị gì không. Hù dọa nhưng tôi không có nói "giết người" hay gì. Mong luật sư tư vấn gấp. chuyện này rất quan trọng, vì công lý, vì giờ tôi khốn khổ với số nợ trên.

Trường hợp này thì bạn có thể tố cáo ra cơ quan công an gần nhất, tòa án, viện kiểm sát để được bảo vệ quyền lợi của mình. Nếu có bằng chứng về ngừời đó có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn thì họ sẽ bị truy cứu theo quy định tại Điều 139 bộ luật hình sự

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.


Còn trong trường hợp bạn có những lời lẽ hù dọa chửi bới người đó thì có thể bạn sẽ chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 121 BLHS.

Điều 121. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê