Chú ruột cháu đã 2 lần giao tiền cho họ (là người quen của chú), một lần 100trđ, một lần sau đó là 20trđ, tổng hai lần giao tiền cho họ là 120trđ.  Nhưng vì cả nể và tin tưởng họ nên chú không viết giấy giao tiền cho họ, tức là ko có hợp đồng bằng văn bản, nhưng họ hứa sẽ giúp được việc nhanh nhất, khoảng chừng tháng 7, tháng 8 cùng năm đó là đi làm. Nhưng sau đó rất lâu, cháu cũng ko được gọi đi thi, nói cách khác, họ đã không làm tròn trách nhiệm mà họ cam kết. Sau đó họ cũng thừa nhận ko chạy việc được và sẽ hoàn số tiền trong thời gian sớm nhất. Cho đến nay đã hơn 1 năm, nhưng họ vẫn chưa trả một đồng nào, thậm chí có nhiều biểu hiện quỵt nợ như trốn tránh, không nghe điện thoại hoặc tắt máy. Lúc giao nhận tiền cho họ thì không có chứng từ gì, đơn thuần chỉ là hợp đồng miệng. Tuy nhiên, trong rất nhiều lần chú ruột cháu gọi điện đòi lại tiền và cả cuộc hẹn gặp trực tiếp đòi lại tiền thì chú ruột cháu có ghi âm lại nhiều cuộc nói chuyện. Trong cuộc nói chuyện có đề cập đến việc họ nhận tiền của cháu là 120trđ, và cũng ghi âm được đoạn họ nói sẽ trả lại đầy đủ tiền cho mình. Lần gần đây nhất, họ hứa muộn nhất là đầu tháng Tám năm 2013 này sẽ trả toàn bộ tiền, nhưng cuối cùng vẫn chưa trả được đồng nào. Việc này gây ức chế tinh thần cho chú ruột cháu cũng như gđ cháu. Vậy cháu muốn hỏi là, chứng cứ ghi âm cuộc nói chuyện đòi nợ giữa chú ruột cháu và họ có được coi là chứng cứ hợp pháp hoặc có giá trị không? Hành vi của họ đã cấu thành tội phạm chưa? Và quan trọng hơn nữa, cháu rất mong các Quý Luật Sư tư vấn cho cháu cách đòi lại tiền (hoặc khởi tố vụ án ra Pháp luật). Một vấn đề nữa cháu muốn được tư vấn là, nên giao tiền nhờ xin việc bằng cách nào cho an toàn nhất, ngoài việc viết hợp đồng văn bản? Có thể chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng với nội dụng là "Cho vay tiền để giải quyết công việc" không ạ?

Cháu xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê
Cháu rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này ạ.
Kính thư!
Người gửi: Đào Hồng Ân
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.
 
Trả lời:
Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi xin được giải đáp như sau:
1. Căn cứ pháp lý:
2. Luật sư tư vấn:
Thắc mắc của bạn có ba vấn đề lớn được giải quyết như sau:
Thứ nhất: Tài liệu ghi âm của bạn có được xem là chứng cứ hợp pháp không?
Tại Điều 82 BLTTDS năm 2004 quy định về các nguồn chứng cứ trong đó có  tài liệu đọc được , nghe được, nhìn được. Băng ghi âm là một tài liệu nghe được và được coi là một nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 83 BLTTDS năm 2004 thì băng ghi âm chỉ được xem là chứng cứ khi đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 83 BLTTDS năm 2004: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.
Vì thế, băng ghi âm của bạn chỉ được xem là chứng cứ chứng minh khi bạn xuất trình kèm theo băng ghi âm đó là văn bản xác nhận xuất xứ của băng ghi âm đó hoặc văn bản liên quan xác nhận về băng ghi âm đó.
Thứ hai: vấn đề về hành vi của người đã nhận tiền có bị phạm tội không?
Việc chú của bạn giao tiền cho người kia để xin việc cho bạn và việc giao nhận tiền này được thực hiện bởi hợp đồng miệng chứng tỏ chú của bạn rất tin tưởng người kia .
Bạn thân mến, tại  Điều 140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đã quy định về các hành vi phạm tội tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong đó có hành vi “  Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó”. Với trường hợp của bạn, theo như lời bạn kể thì “họ cũng thừa nhận ko chạy việc được và sẽ hoàn số tiền trong thời gian sớm nhất. Cho đến nay đã hơn 1 năm, nhưng họ vẫn chưa trả một đồng nào, thậm chí có nhiều biểu hiện quỵt nợ như trốn tránh, không nghe điện thoại hoặc tắt máy”. Mặt khác, số tiền người kia có được từ chú của bạn là 120 triệu đồng. Dựa trên quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì  người kia có thể bị khép vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác với mức phạt tù thấp nhất là 2 năm và cao nhất là 7 năm.
Thứ ba: vấn đề xin việc của bạn
Hiện nay có rất nhiều người xin việc bằng hình thức chạy tiền, và đã không ít người bị “lừa”. Do đó, trong các công việc liên quan tới thỏa thuận của hai bên nói chung và việc xin việc của bạn nói riêng, bạn nên thể hiện sự thỏa thuận nhất trí cả hai bên bằng hợp đồng, có giấy tờ, có căn cứ  để về sau có chuyện gì cũng có chứng cứ để chứng minh sẽ giải quyết mọi việc tốt hơn.
 
Ý kiến bổ sung:
Trả lời:
Thắc mắc của bạn được tư vấn như sau:
Thứ nhất, về vấn đề băng ghi âm “lén” có được coi là chứng cứ trong vụ việc dân sự hay không?
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011) quy định về chứng cứ trong vụ việc dân sự như sau:
Điều 81 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”
Theo Điều 82 thì băng ghi âm là tài liệu nghe được và được coi là một nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 83 về xác định chứng cứ thì băng ghi âm được coi là chứng cứ khi thoản mãn điều kiện sau: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”
Như vậy đoạn băng ghi âm cuộc điện thoại giữa chú bạn và bên đối tác sẽ trở thành chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc có văn bản liên quan đến việc thu âm đó, có thế là văn bản có ghi nhận thồng tin về những cuộc gọi của hai bên với nhau tại thời điểm ghi âm…; đồng thời bên đối tác phải thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của họ hoặc có kết quả giám định xác nhận giọng nói trong đoạn ghi âm là của bên đối tác. Trong trường hợp không đáp ứng được những điều kiện trên thì đoạn băng ghi âm đó chỉ được xem là tài liệu có liên quan đến vụ án, có giá trị tham khảo chứ không có giá trị chứng minh trong việc xác định sự tật của vụ án
Thứ hai, về vấn đề hành vi không hoàn thành giao kết, có sự trốn tránh của bên nhận tiền có cấu thành tội phạm hay không?
Theo thông tin bạn cung cấp thì chú bạn đã tiến hành giao tiền cho bên người quen mà không hề có giấy tờ biên nhận, chỉ giao kết bằng lời nói, do đó, đây là hợp đồng miêng.
Bên chú bạn đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho bên kia (là người quen của chú bạn) mà họ không thực hiện nghĩa vụ như đã giao kết, có hành vi trốn tránh nhằm chiếm đoạt số tiền 120 triệu đồng thì hành vi đó sẽ cấu thành tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
“Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Bên bạn có thể tiến hành khởi kiện để đòi lại tài sản của mình.
Thứ ba, về việc như bạn nói là “nhờ xin việc an toàn nhất mà không cần viết hợp đồng văn bản”
Hiện này tình trạng “đưa tiền nhờ xin việc” diễn ra rất phổ biến và có không ít cá nhân bị rơi vào tình trạng “tiền mất tật mang”. Theo quy định thì đây là hành vi trái pháp luật và có thể phải chịu chịu trách nhiệm hình sự. Để giao dịch giao tiền được tiến hành một cách hợp pháp và an toàn, hai bên nên xác lập hợp đồng vay tiền bằng văn bản để đảm bảo quyền lợi của các bên.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê