Nhưng chủ nhà nhắn tin bảo phải bồi thường thiệt hại cho họ 5 triệu đồng tiền mặt và trả lại tiền công 3 ngày đã thanh toán. Nếu không họ sẽ viết đơn trình báo công an chỗ họ ở và gửi về địa phương bạn em.Luật sư cho em hỏi: Nếu chủ nhà làm đơn trình báo công an như thế thì có đúng không? Chủ nhà tự ý kê tài sản và định giá như thế có đúng không? Giữa 2 bên không có biên bản hay giấy tờ gì về việc người giúp việc phạm tội, như thế công an có vào cuộc để giải quyết được không? Mong hồi âm sớm để bạn em được yên tâm Em cảm ơn nhiều!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn Luật Hình sự : 1900 6162

Trả lời

 

Công ty luật Minh Khuê chào bạn! Cảm ơn bạn đã chia sẻ những vướng mắc của mình tới bộ phận tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Vấn đề bạn quan tâm chúng tôi giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

2. Nội dung tư vấn

Trước hết, nếu chủ nhà có nghi ngờ người bạn của bạn về hành vi trộm cắp tài sản thì họ hoàn toàn có thể gửi đơn trình bảo đến cơ quan công an, dù hai bên không có thỏa thuận hợp đồng giữa chủ nhà và người giúp việc, công an vẫn tiến hành vào cuộc để điều tra. Vì hành vi trộm cắp không phụ thuộc vào hợp đồng lao động của các bên, mà bất kể người nào có hành vi trộm cắp đều phải chịu trách nhiệm. 

Nếu kết quả điều tra cho kết luận người bạn của bạn có thực hiện hành vi lấy trộm đồ đạc của chủ nhà thì có thể sẽ bị xử lý theo quy định về Tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ theo Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp;

c)  Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g)  Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng."

Tuy nhiên, theo những thông tin bạn cung cấp, chủ nhà không có đủ chứng cứ, không bắt quả tang lần nào và cũng không có cơ sở để nói rằng bạn của bạn trộm cắp tài sản. Vì vậy, nếu không đủ bằng chứng phạm tội về việc người giúp việc lấy trộm đồ đạc, kết quả điều tra  người giúp việc không có hành vi trộm cắp thì rất có thể chủ nhà sẽ phạm Tội Vu khống hoặc Tội làm nhục người khác.

Căn cứ Bộ luật hình sự 1999,sửa đổi bổ sung 2009:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

  1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

    a) Phạm tội nhiều lần;

    b) Đối với nhiều người;

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    d) Đối với người thi hành công vụ;

    đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

  3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.