1. Người đang bị phạt tù 6 tháng nhưng được hưởng án treo có được phép kinh doanh không?

Thưa luật sư, Xin hỏi Luật sư : Người bị phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng do vận chuyển pháo nổ vào dịp tết thì có đc phép kinh doanh hay ko ?

Xin cảm ơn Luật Sư !

Người gửi: Hoang Tan Dinh

>> Người bị phạt án treo có được kinh doanh, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Thắc mắc của bạn được giải quyết như sau:

Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp về điều kiện thành lập và đăng kí kinh doanh thì có hạn chế quyền của người đang chấp hành hình phạt tù. Cụ thể là tại điểm e khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì người đang chấp hành hình phạt tù thì không được quản lý và thành lập doanh nghiệp . Việc bạn được hưởng án treo với thời gian thử thách 12 tháng cũng là một hình thức của chấp hành hình phạt tù. Do đó, bạn không nên thực hiện việc kinh doanh.Bạn có thể thực hiện ý muốn kinh doanh của mình khi đã thực hiện xong hình phạt tù.

Khoản Điều 13, luật doanh nghiệp năm 2005 Quy định:

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

3. Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Chúc bạn thực hiện được ý muốn của mình!

Ý kiến bổ sung:

Chào anh! Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp của công ty, câu hỏi của anh tôi xin được giải đáp như sau:
Đào tạo điều kiện thuận lợi cho người được hưởng án treo hòa nhập với cộng đồng, Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo quy định những người đang hưởng án treo vẫn được hưởng quyền lợi và các ưu đãi xã hội.
Theo quy định tại Điều 61 Luật thi hành án hình sự như sau:

Điều 61. Quyết định thi hành án treo
1. Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;
d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.


Như vậy căn cứ quy định viện dẫn trên thì bạn cần xem xét kỹ trong bản án có áp dụng hình phạt bổ sung với người được hưởng án treo cấm người đó không được phép kinh doanh trong thời gian thử thách hay không. Nếu trong bản án không có hình phạt bổ sung mà người được hưởng án treo tham gia hoạt động kinh doanh thì không vi phạm quy định pháp luật đã viện dẫn.

Dựa trên những quy định đã nêu, hy vọng chúng tôi đã góp phần làm rõ những vướng mắc của anh. Cảm ơn anh đã sử dụng dịch vụ của công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

2. Chồng đang bị án treo thì vợ có được kết nạp đảng không ?

Chào luật sư, tôi có vấn đề này còn thắc mắc, rất mong được sự tư vấn, giúp đỡ của luật sư. Xin hỏi chồng tôi đang bị án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tôi có được kết nạp đảng không ?
Xin cảm ơn Luật sư & quý công ty.

Chồng đang bị án treo thì vợ có được kết nạp đảng không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty luật Minh Khuê. Với nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ tư vấn pháp luật hành chính, công ty luật Minh Khuê trả lời như sau:

- Căn cứ theo Hướng dẫn 01 : hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng :

''3.4- Thẩm tra lý lịch của người vào Đảng

a) Những người cần thẩm tra về lý lịch gồm:

- Người vào Đảng.

- Cha, mẹ đẻ, cha, mẹ vợ (chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân; vợ hoặc chồng, con đẻ của người vào Đảng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (sau đây gọi chung là người thân).

b) Nội dung thẩm tra, xác minh

- Đối với người vào Đảng: làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay; về chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

- Đối với người thân: làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay; việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Phương pháp thẩm tra, xác minh

- Nếu người vào Đảng có một trong các trường hợp sau đây đang là đảng viên: cha, mẹ đẻ, anh, chị, em ruột, con đẻ và trong lý lịch người vào Đảng đã khai đầy đủ, rõ ràng, trung thực theo quy định, thì không phải thẩm tra, xác minh.

Nếu vợ (chồng) người vào Đảng đang là đảng viên hoặc có một trong các trường hợp sau đây đang là đảng viên: cha, mẹ đẻ, anh, chị, em ruột và trong lý lịch của người vào Đảng đã khai đầy đủ, rõ ràng trung thực theo quy định, thì không phải thẩm tra, xác minh bên vợ (chồng).

...''

Như vậy,việc chồng bạn đang bị án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ảnh hưởng đến việc bạn muốn kết nạp vào Đảng,cụ thể bạn sẽ không được kết nạp Đảng vì chồng bạn (người thân) nằm trong mục Những người cần thẩm tra lí lịch khi bạn xét vào Đảng.

>> Tham khảo ngay: Khái niệm cải tạo không giam giữ ? án treo ? Phân biệt hình thức cải tạo không giam giữ và án treo theo quy định pháp luật

3. Bị xử án treo về tội đánh bạc có phải đóng tiền phạt bổ sung không ?

Thưa luật sư! Toi danh bac an tien pham vao khoan 1 dieu 248 ma bi su an treo co phai dong tien phat bo sung khong vay va muc phat bao nhieu the

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Điều 248. Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009)

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Như vậy, bạn sẽ không phải đóng tiền phạt bổ sung khi đã xử án treo về hành vi đánh bạc.

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn về điều kiện hưởng án treo mới nhất theo quy định của luật hình sự hiện nay ?

4. Trộm cắp tài sản 32 triệu có được hưởng án treo không?

Kính thưa luật sư! nhờ luật sư tư vấn về hành vi của anh a. a trộm cắp tài sản của b trị giá 32 triệu đồng. hành vi của a đã vi phạm vào khoản 1, điều 138 blhs. viện kiểm sát đưa ra mức án cải tạo không giam giữ 01 năm nhưng toà tuyên án a 18 tháng tù ở. vậy hành vi của a khi kháng án có được hưởng án treo không?

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản ( Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009)

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Như vậy, anh A bị kết án không quá 3 năm tù, anh A kháng cáo để xem xét hưởng án treo, thỏa mãn điều kiện pháp luật như sau:

Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.

>> Bài viết tham khảo thêm: Khái niệm án treo và điều kiện được hưởng án treo ?

5. Đang chấp hành án treo có ảnh hưởng đến công việc ?

Xin chào văn phòng luật Minh Khuê. Em có một số thắc mắc rất mong văn phòng luật có thể tư vấn giúp em.
- Hiện nay, em đang bị mắc phải tù án treo. Ví dụ, em có đi làm thì liệu lúc em làm hồ sơ, xin dấu, công chứng sơ yếu lí lịch tại địa phương để đi làm thì người ta có chấp nhận đóng dấu công chứng cho em không? Và nếu đóng dấu thì người ta có ghi gì trong sơ yếu lí lịch đi làm của em không ạ?
- Thắc mắc thứ 2 là, gia đình em đang có dự định xin cho em làm công việc nhà nước, thì liệu trường hợp của em có được không ạ? (theo em tìm hiểu là những công việc nhà nước nào yêu cầu cấp phiếu lí lịch tư pháp ví dụ như công an thôi đúng không ạ?). E rất mong văn phòng luật giải đáp thắc mắc giúp em ạ. Em xin cám ơn!

Trả lời:

Địa phương có trách nhiệm xác nhận lý lịch cho công dân.

Về thẩm quyền chứng thực sơ yếu lý lịch, khoản 7 và khoản 9 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện và Công tác Tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn, có nhiệm vụ, quyền hạn:

“7. Thực hiện việc đăng ký, đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn theo quy định của pháp luật; quản lý, sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của Bộ Tư pháp; lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch.

9. Thực hiện cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, về nguyên tắc, đối với những nội dung cụ thể có liên quan đến thông tin về hộ tịch, cư trú của công dân trong sơ yếu lý lịch thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi công dân có đăng ký thường trú là cơ quan có thẩm quyền chứng thực sơ yếu lý lịch.

Địa phương có trách nhiệm xác nhận lý lịch cá nhân của bạn nhưng họ sẽ yêu cầu bạn điền đầy đủ thông tin bao gồm cả việc đang chấp hành án treo theo bản án của Tòa án.

Đang chấp hành án treo bạn vẫn có quyền xin việc nhưng tùy vào tiêu chuẩn của cơ quan, người tuyển dụng mà bạn có được nhận hay không. Vậy nên bạn phải ghi đầy đủ rõ ràng về việc mình đang chấp hành hình phạt án treo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm: Hướng dẫn về cách tính thời gian thử thách của án treo theo quy định của luật hình sự ?

6. Tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo thêm một lần nữa không ?

Thư luật sư, xin hỏi: A biết gia đình anh B thường không có ai ở nhà vào buổi sáng. Khoảng 9 giờ ngày 26 tháng 7 năm 2010, A phá khóa vào nhà anh B để lấy tài sản. A đang dắt chiếc xe máy của anh B ra sân (chiếc xe máy trị giá 30 triệu đồng).

Đúng lúc đó anh B quay về nhà, phát hiện và hô hoán. A bị mọi người bắt giữ. Hành vi của A có thể bị xử lí theo khoản 1 điều 138 BLHS. Tình huống trên được giải quyết thông qua hệ thống câu hỏi:

1. Giả sử A mới 15 tuổi thì A có phải chịu TNHS không? Tại sao?

2. Nếu A đã đủ 17 tuổi thì A có thể được hưởng án treo không? Tại sao?

3. A có thể được Tóa án áp dụng điều 47 BLHS để giải quyết hình phạt hay không?

4. Giả thiết khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, A đã đủ 25 tuổi, bị tòa án phạt 1 năm tù và được hưởng án treo, thời gian thách thức là 2 năm và mới chấp hành được 1 năm thử thách. A bị phát hiện hành vi cướp giật tài sản trước khi có bản án treo về tội trộm cắp nêu trên thì A có thể được hưởng án treo lần nữa không?

Trả lời:

1. Giả sử A mới 15 tuổi thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự dựa trên những cơ sở sau:

Theo Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định: "2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng".

Bên cạnh, A thực hiện hành vi trôm cắp xe máy của anh B có giá trị là 30 triệu đồng áp dụng theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

Ta thấy tội phạm được quy định ở đây là tội phạm ít nghiêm trọng.

Như vậy, A mới 15 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. A đã đủ 17 tuổi thì A có thể được hưởng án treo.

Ta thấy Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm". Trường hợp này A đủ 17 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình gây ra.

Theo Khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự 1999:

"1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm".

Ngoài ra theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP quy định:

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.
Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:
b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;
b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;
b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;
c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;
d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;
đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.

Qua đây ta thấy, A có thể được hưởng án treo khi đáp ứng đủ các điều kiện trên.

3. A có thể được Tòa án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 để giải quyết hình phạt

Theo Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Điều kiện để áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 là: "Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này". Như vậy, A chỉ được Tòa án áp dụng Điều 47 khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ.

4. Giả thiết khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, A đã đủ 25 tuổi, bị tòa án phạt 1 năm tù và được hưởng án treo, thời gian thách thức là 2 năm và mới chấp hành được 1 năm thử thách. A bị phát hiện hành vi cướp giật tài sản trước khi có bản án treo về tội trộm cắp nêu trên thì A không được hưởng án treo lần nữa.

Theo Điều 7 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP quy định về trường hợp người được hưởng án treo bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo:

Trường hợp một người đang được hưởng án treo mà sau đó lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác, thì Tòa án xét xử, quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không cho hưởng án treo một lần nữa. Người phạm tội đồng thời phải chấp hành hai bản án. Việc thi hành án trong trường hợp này do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định tại Điều 5 của Luật thi hành án hình sự.

Như vậy, A không được hưởng án treo lần nữa. Đồng thời A phải chấp hành hai bản án về tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản trước đó.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.1940.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Côngty luật Minh Khuê