1. Nhậu say, đánh người gây thương tích bị phạt thế nào ?

Chào luật sư! Tôi có một vấn đề mong luật sư tư vấn giúp như sau: Hôm trước, cha tôi có đi nhậu cùng một vài người chung xóm. Sau một hồi rượu vào thì mọi người có nói chuyện qua lại với nhau nhưng chủ yếu là nói đùa cho vui, không có ác ý. Trong đó có một người không hiểu ý cha tôi nên đã nổi cáu và bất ngờ cầm cái ly uống bia đập vào đầu cha tôi gây chấn thương vùng đầu, trán tổng cộng 3 vết thương làm cha tôi ngất đi phải đi viện khâu rất nhiều mũi.

Trong khi cha tôi ngất anh ta còn dùng gậy, chai bia, dao định đánh thêm vào người cha tôi nhưng được mọi người ngăn kịp thời. Cha tôi được mọi người đưa đi cứu chữa nên đã không nguy hiểm tính mạng. Vụ việc đã được trình báo công an xã và cha tôi đã xuất viện về nhà đã 3 ngày nay nhưng vẫn chưa thấy công an gọi lên lấy lời khai. Còn về phía người hành hung cha tôi vẫn ung dung và chẳng hề đến nhà tôi nói lời phải trái hoặc bồi hoàn thuốc than gì hết.

Xin hỏi luật sư, trong trường hợp tôi muốn làm đơn kiện đến tòa án nhân dân huyện được không? Nếu được thì thủ tục như thế nào? Và nếu tòa thụ lý giải quyết thì người đánh cha tôi có thể sẽ phải chịu những tội gì?

Xin cảm ơn!

Người gửi: NVL

Nhậu say, đánh người gây thương tích

Nhậu say, đánh người gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 104 Luật hình sự năm 1999 quy định:

" Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Như vậy, anh cần phải đi giám định thương tật cho cha của anh. Nếu tỉ lệ thương tật của cha anh nhỏ hơn 11% và không thuộc một trong các trường hợp được quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người hành hung cha anh sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này, anh có thể khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường theo quy định tại Điều 161 Luật tố tụng dân sự năm 2004.

Nếu tỉ lệ thương tật của cha anh từ 11% đến 30% hoặc nhỏ hơn 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người hành hung cha anh có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Nếu tỉ lệ thương tật của cha anh từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người hành hung cha anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Nếu tỉ lệ thương tật của cha anh từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người hành hung cha anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Hướng dẫn viết đơn yêu cầu bồi thường đối với hành vi đánh người gây thương tích ?

2. Đánh người khác gây thương tích bị xử phạt như thế nào?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có yêu cầu mong công ty tư vấn giúp như sau: Em trai của tôi cách đây vài hôm có đi chơi với một vài người bạn, sau đó phát sinh mâu thuẫn, em tôi đã dùng ghế đánh vào người những người kia. Sau đó, công an có đến xác minh vụ việc, người bạn kia được đưa đi bệnh viện giám định tỷ lệ thương tích là 8%. Vậy cho tôi hỏi: Em tôi có bị ngồi tù hay không? Mức hình phạt của em tôi là như thế nào?
Mong sớm nhận được phản hồi từ quý công ty. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về gay thương tích, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. "

Như thông tin bạn cung cấp, em của bạn có hành vi dùng ghế để đánh vào người khác gây thương tích cho người này với tỷ lệ thương tích là 8%. Theo đó, căn cứ Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định Bộ luật hình sự thì dùng hung khí nguy hiểm là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm. Trong đó:

Vũ khí bao gồm:

- Vũ khí quân dụng gồm: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thành; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hoá chất độc và nguồn phóng xạ các loại đạn; bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thuỷ lôi, vật liệu nổ quân dụng, hoả cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng - an ninh.

- Vũ khí thể thao gồm: các loại súng trường, súng ngắn thể theo chuyên dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên.

- Súng săn gồm: Các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, sung hoả mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên.

- Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc chất cứng, cung, nỏ, côn các loại và các loại khác do Bộ Nội vụ quy định.

Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

- Về công cụ, dụng cụ. Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

- Về vật mà người phạm tội chế tạo ra. Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

- Về vật có sẵn trong tự nhiên. Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Thủ đoạn nguy hiểm khác là ngoài các trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm, người phạm tội có thể dùng thủ đoạn khác nguy hiểm đối với người bị tấn công hoặc những người khác như sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê với liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ; dùng dây chăng qua đường để làm cho nạn nhân đi mô tô, xe máy vấp ngã để cướp tài sản...

Như vậy, em của bạn đã sử dụng ghế là vật có sẵn trong tự nhiên để gây thương tích cho người khác, do vậy, hành vi đánh người dùng ghế của em bạn gây thương tích cho nạn nhân là 8% thì em của bạn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, em của bạn còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại mà em bạn gây thương tích bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung: Hành vi dọa giết người và gây thương tích bị xử lý như thế nào?

3. Gây thương tích cho người khác thì phải chịu trách nhiệm gì ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Dạ chị em tên là Dung chị có thể tư vấn cho em một chuyện là vào sáng ngày 30/12/2015 (dương lịch) ba em với một người phụ nữ gần nhà có tranh chấp chuyện đất đai, trong lúc gây gổ người đó đã dùng dao chém ba em. Ba em đã dùng tay đỡ không may trúng ngón tay bị tổn hại tới ngón tay 70%, chị có thể chỉ em nên kiện như thế nào được không ạ?
Em không hiểu nhiều về luật pháp, em cảm ơn chị nhiều ạ.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

A) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

B) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

C) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

D) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

Đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

E) Có tổ chức;

G) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

H) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

I) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

K) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Căn cứ tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP:

"3.1. Tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS

"Dung hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Ví dụ: Theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì dao nhọn là phương tiện nguy hiểm và đã được A sử dụng gây thương tích cho B thì thuộc trường hợp "dùng hung khí nguy hiểm".

Căn cứ tiểu mục 2 Mục I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP:

"2. Về khái niệm "vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự

2.1. "Vũ khí" là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).

2.2. "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

a. Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Như vậy hành vi của người hàng xóm nếu do lỗi cố ý sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

>> Tham khảo bài viết liên quan: Bồi thường khi gây thương tích cho người khác?

4. Gây thương tích cho người bị động kinh bị phạt bao nhiêu ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về vấn đề gây thương tích cho người khác theo quy định của luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành:

Gây thương tích cho người bị động kinh bị phạt bao nhiêu ?

Luật sư tư vấn:

Đối với hành vi cố ý đánh người hay cố ý gây thương tích cho người khác, tùy vào tỷ lệ thương tật của người bị hại để xem xét người này có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không hay chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quy định của điều 104, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Đối với trường hợp này, để đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự, tỷ lệ thương tật của người bi hại sẽ là trên 11%, hoặc dưới 11% nhưng có dùng hung khí nguy hiểm, gây cố tật nhẹ cho nạn nhân... ( tức là có một trong các hành vi quy định tại khoản 1 điều 104 Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này

Nếu như tỷ lệ thương tật thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 điều 104 thì việc khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại. Nếu người bị hại rút đơn bãi nại, vụ án sẽ được đình chỉ nhưng chỉ áp dụng đối với hành vi vi phạm tại khoản 1, còn đối với khoản 2, 3, 4 điều 104 Bộ luật hình sự thì khởi tố sẽ không phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại mà phụ thuộc vào quyết định của cơ quan công an.

Nếu như chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hình chính theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau";

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Thứ hai : Liên quan đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại điều 609 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm thiệt hại sức khỏe cho người khác.

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Thưa luật sư. cho cháu hỏi: "trong trường hợp đánh nhau của H(8tuoi) đánh B(10tuoi) lam B bj thương 10%. thì H co phảj chjụ trách nhiệm pháp lý hay k? và người bồj thường thiệt hại là aj?"

Bạn lưu ý, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự ở đây là đủ 14 tuổi trở lên, nếu như cháu H mới 8 tuổi, như vậy trong trường hợp này, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì được xác nhận cháu không có năng lực trách nhiệm hình sự. Còn đối với trường hợp liên quan đến vấn đề trách nhiệm bồi thường ở đây sẽ do bố mẹ cháu H có nghĩa vụ bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Tư vấn về việc liệu có bị đi tù khi giúp bạn đánh gây thương tích người khác ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bữa nọ em có đi hát. Khi ra khỏi phòng thì thấy 2 bạn của em đánh 1 người và em có tới đấm ngưới kia 2 đấm. Giờ người ta đã khởi kiện. Gia đình em đã vào hỏi thăm và chi tiền bôi thường nhưng người ta không nhận và cũng không viết đơn bãi nại. Thương tích của người bị đánh là 24%. Vậy trong trường hợp này liệu em có bị đi tù không ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về việc liệu có bị đi tù khi giúp bạn đánh gây thương tích người khác ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn tham gia đánh một người, gây thương tích 24%. Dù bạn chỉ đấm người đó 2 đấm, nhưng hành vi của bạn là hành vi dùng vũ lực, lỗi cố ý và cùng với hành vi của hai bạn khác, đã gây tổn hại sức khỏe cho người đó 245. Do đó, hành vi của bạn cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo Khoản 2 Điều 104 BLHS: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, nhưng thuộc trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 (Có tổ chức).

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Bạn và hai người bạn của bạn đều phải chịu TNHS về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định trên. Ba người là đồng phạm và đều là người thực hành trong tội phạm này. Khung hình phạt quy định tại Khoản 2 Điều 104 là phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Vê việc gia đình nạn nhân không viết giấy bãi nại:

Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại:

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Như vậy, Tội phạm mà bạn thực hiện thuộc Khoản 2 Điều 104, chứ không phải Khoản 1 Điều 104 BLHS. Do đó, dù gia đinh nạn nhân có viết giấy bãi nại thì cơ quan điều tra vẫn khởi tố vụ án này theo quy định pháp luật.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Trân trọng./.

6. Gây thương tích 20% thì bị truy cứu TNHS như thế nào ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, cho em hỏi trường hợp của em như sau: Em đi chơi cùng bạn, do em không kiềm chế được nên em và một người bạn của em đã đánh anh A, làm anh ấy mất 20% sức khỏe. Hiện giờ em đang nuôi con nhỏ một mình và em cũng thành khẩn khai nhận trước cơ quan công an. Em phải chịu hình phạt như thế nào ?

Gây thương tích 20% thì bị truy cứu TNHS như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo như dữ liệu bạn đưa ra thì bạn và người bạn của bạn đánh anh A mất sức khỏe 20%, đối với trường hợp này bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:"

Như vậy, trong trường hợp này bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Về tình tiết giảm nhẹ, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo cũng là 1 trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 46 BLHS:

"1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án."

Bên cạnh đó, Điều 60 BLHS cũng có quy định về hưởng án treo, cụ thể:

"1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Như vậy, bạn cần căn cứ vào những quy định trên để xác định cho mình những tình tiết giảm nhẹ, tạo điều kiện cho bạn được sớm chăm sóc con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật hình sự​ - Công ty luật Minh Khuê