Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25  Bộ luật Hình sự năm 1999 ) là việc không bắt buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện. Đây là trường hợp người phạm tội đã phạm vào một tội mà hành vi của họ đáp ứng 4 dấu hiệu của tội phạm và 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Khi tiến hành tố tụng đã có đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm của họ. Tuy nhiên cơ quan tiến hành tố tụng đã căn cứ vào những điều kiện do pháp luật quy định để miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các điều kiện sau đây:

- Nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xết xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tôi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

>> Luật sư tư vấn pháp Luật Hình sự gọi: 1900.6162

- Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

- Miễn trách nhiệm hình sự khi được đại xá.

Người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên được coi là không có án. Ở giai đoạn điều tra, truy tố, Viện Kiểm sát có quyền ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự, còn ở giai đoạn xét xử Tòa án có quyền ra quyết định.

Miễn hình phạt khác hẳn với miễn trách nhiệm hình sự. Miễn hình phạt là không buộc một người phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện. Nếu như miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát quyết định áp dụng cả ở giai đoạn điều tra, truy tố thì miễn hình phạt chỉ do Tòa án áp dụng khi ra quyết định. Người được Tòa án miễn chấp hành hình phạt vẫn coi là can án bởi vì họ đã bị kết án bằng bản án, tuy nhiên xét thấy không cần thiết buộc họ phải chấp hành bản án thì miễn hình phạt cho họ. Miễn chấp hành hình phạt được áp dụng theo một trong các điều kiện quy định tại Điều 57  Bộ luậ Hình sự là:

Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đại xá hoặc đặc xá.

Đối với người bị phạt tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Hình sự, nếu trong thời gian tạm đình chỉ  mà đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt còn lại.

Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thười gian hình phạt và cải tạo tốt thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt còn lại.

Phân biệt sự khác nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn. Đây là căn cứ để xác định một người đã có hoặc chưa có án tích trong lai lịch của họ, đồng thời đây là căn cứ để xác định con người đủ hay không đủ điều kiện gia nhập công chức hoặc tuyển dụng vào công việc khác, để chứng tỏ co em họ đủ hoặc không đủ điều kiện thi tuyển vào một số lĩnh vực đòi hỏi hồ sơ lý lịch trong sạch. Như vậy, việc phân biệt còn có tác dụng bảo đảm quyền công dân do pháp luật quy định.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê