Tháng 03/ 2013 đối chiếu khớp công nợ. Đến 03/5/2013 chồng tôi nghỉ làm ở công ty và bỏ trốn vì đã đổ nợ. Tháng 04/2013 này chồng không ký công nợ mà đã bỏ trốn. Thì cho tôi hỏi chồng tôi làm như vậy thì pháp luật như thế nào và chồng bỏ trốn tôi là người bảo lãnh xử lý ra sao? Và công ty đưa ra con số nợ của chồng tôi là 700tr mà thực tế chồng có nói với tôi là khoảng 400 tr. Xin tư vấn pháp luật cho tôi biết tình trạng của chồng tôi xử lý ra sao ? Có phai ngồi tù không ?

Người gửi: Thoại

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

.Tư vấn Nợ tiền mà bỏ trốn có bị phạt tù không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 )

- Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung phân tích:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hành vi của chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Điều 140 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể:

" Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

" Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, Dù thuộc phạm vi điều luật nào chồng bạn chắc chắn phải chịu trách nhiệm hình sự và chịu mức hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. 

Về người bảo lãnh:

Bạn cần hiểu rõ về việc bảo lãnh như sau:

" Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

" Điều 362. Hình thức bảo lãnh  

Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Như vậy, nếu như đã có văn bản về việc bảo lãnh giữa bạn và chồng thì nghĩa vụ bảo lãnh của bạn đã phát sinh.

Tuy nhiên, Người bảo lãnh chỉ đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cho người được bảo lãnh không chịu trách nhiệm hình sự thay cho người được bảo lãnh. Cụ thể, Về nghĩa vụ tài sản:

Căn cứ quy định tại Điều 369 Bộ luật dân sự năm 2005 về việc xử lý tài sản thì:

" Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.  "

Như vậy, bạn phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho công ty chồng bạn. Trường hợp bạn không thể hoàn thành nghĩa vụ tài sản này mà bên nhận bảo lãnh là công ty chồng bạn trình báo sự việc này tới cơ quan công an, khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì chồng bạn sẽ bị khởi tố hình sự về hành vi phạm tội.

Về số nợ của công ty:

Theo như bạn trình bày thì ở đây đang có sự mâu thuẫn giữa số nợ công ty đưa ra và số nợ mà chồng bạn cung cấp. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình bạn cần đưa ra những chứng cứ chứng minh số nợ thực tế mà chồng bạn đã cung cấp.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê