Tuy nhiên, gần đây người phụ nữ đó thường xuyên gọi điện dọa nạt gia đình tôi, thường thì người đó sẽ gọi và chửi bới rồi dọa là sẽ cho người theo dõi và đánh. Thậm chí, người phụ nữ đó còn cho người đi rải tờ rơi gần nhà tôi và nói là bố tôi vay nợ của người đó 30 triệu nhưng không trả, trong khi không có giấy tờ nào để chứng minh cả. Người phụ nữ này cũng thường xuyên cho người đến dò la tin tức về nhà tôi. Hôm trước người này cũng sai người đến hỏi dò xem bố tôi có nhà không nhưng bị tôi phát hiện và báo công an xã, sau quá trình làm việc tên thanh niên đến dò la tin tức kia cũng đã khai là do người phụ nữ đó thuê. Nhiều lần người phụ nữ này còn gọi điện cho tôi, tôi có ghi âm lại và trong số các cuộc ghi âm đấy, rất nhiều lần người phụ nữ này bảo rằng cứ gặp bố tôi thì sẽ đánh. Vậy tôi muốn hỏi luật sư là tôi nên làm những gì để chấm dứt chuyện này. Tôi thực sự cảm thấy rất lo lắng.

Tôi xin cảm ơn !

Người gửi :

P.M

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

                                                              Phải làm gì khi quyền nhân thân bị xâm phạm ?

                                                             Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi 1900.6162

Trả lời :

 

Chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê chúng tôi. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau :

Căn cứ pháp lý :

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 

Bộ luật dân sự 2005 

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình.

Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Nội dung tư vấn :

Theo như bạn nói thì người phụ nữ đó đã có những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của không chỉ bố bạn mà cả của các thành viên khác trong gia đình bạn, cụ thể :

Một là việc người đó đã gọi điện “chửi bới” và "dọa đánh" gia đình bạn, hành vi này không chỉ xâm phậm đến danh dự mà còn đe dọa đến quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của các thành viên trong gia đình bạn.

Hai là, người phụ nữ đó đã cho người đi rải tờ rơi gần nhà bạn và nói là bố bạn vay nợ người đó 30 triệu nhưng không trả, trong khi lại không có giấy tờ nào để chứng minh cả. Như vậy là người này đã có hành vi bịa đặt và loan truyền những thông tin không đúng sự thật, hành vi này đã ảnh hưởng đến uy tín cũng như danh dự không chỉ của bố bạn mà là của cả gia đình bạn. 

Điều 32 và điều 37, Bộ luật dân sự 2005 lần lượt quy định về quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:

" Điều 32.Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể

1. Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể. "

" Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín 

 Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Căn cứ vào Điều 25, Bộ luật dân sự thì bạn và các thành viên khác trong gia đình bạn có quyền bảo vệ quyền nhân thân của mình bằng cách:

" Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính ;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại."

Như vậy, để có thể chấm dứt hành vi vi phạm nêu trên của người phụ nữ, trước hết bạn cũng như các thành viên trong gia đình bạn có thể tự mình yêu cầu người phụ nữ đó chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, việc bạn trực tiếp yêu cầu người phụ nữ kia chấm dứt hành vi vi phạm này là rất khó và còn có thể gây nguy hiểm cho bạn nên theo chúng tôi, trong trường hợp này, bạn nên làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại và có thể tiến hành xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình.

Điểm a, Khoản 1 và điểm l, khoản 3, Điều 5, mục 1, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định :

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;

Khi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhận đơn yêu cầu của bạn mà có phát hiện dấu hiệu tội phạm thì sẽ chuyển đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết.

Bạn cũng có thể trực tiếp hoặc làm đơn tố cáo tội phạm đối với hành vi của người phụ nữ vì đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của bạn đến công an xã theo tội danh quy định tại điều 121 và điều 122, bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Khoản 1, điều 121 và khoản 1, điều 122, bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau :

“ Điều 121. Tội làm nhục người khác

1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

“ Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

Theo khoản 1, điều 9, Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì : “ Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu. Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3, điều 104 , bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố.” 

Như vậy, sau khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm mà bạn cung cấp cơ quan điều tra sẽ dựa trên quy định của pháp luật và chứng cứ thu thập được để tiến hành xem xét và xác minh. Nếu có căn cứ rõ ràng là có dấu hiệu tội phạm của hai tội nêu trên thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án. Khi đó, việc giải quyết vụ án sẽ được tiến hành theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự nhằm buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cũng như nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người bị hại là các thành viên trong gia đình bạn .

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.