Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (Bộ luật hình sự năm 2015)

Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

2. Nội dung phân tích: 

Xin chao cac luật sư cua luật minh khuê.Toi có thac mac mong luật sư giai dap giúp.Mong luật sư có thể phan biết toi lợi dung tín nhiêm chiem doat tai san va tội lừa đảo chiem đoạt tài sản.Mong luật sư giúp đỡ ạ Được gửi từ điện thoại chạy Windows 10 của tôi

Điều 139 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

 

Điều 140 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”

Dấu hiệu để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) chính là hành vi khách quan của tội phạm:

Cả 2 tội trên người phạm tội đều có thủ đoạn "gian dối" và hành vi "tự nguyện giao tài sản" (dựa trên sự tín nhiệm) của nạn nhân. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau:

- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt).

- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm (người quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất…Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ… 

Tôi có hơi trong hội xe sh ở hà nội. Vừa rồi trên hội có người giao bán bô xe z1000. Tối thấy vậy đã liên hệ hỏi thông tin chi tiết về chiếc bô đó. Người đó có tên fb là Nghĩa Vũ nhà ở Hải Phòng. Tôi đã kết bạn hai người nói chuyện. Người đó bảo bô mới dùng tháo xe được 2 tháng và bô còn zin. Nhưng tôi vẫn e ngại nếu không ưng thì sao khi k được trực tiếp xem và nghe tiếng bô. Người đó bảo nếu anh không ưng sẽ trả tiền cho a. Tôi đã đồng ý phương án đó và chuyển khoản cho cậu ta và tôi cũng nhận đc bô. Nhưng tôi không ưng và đã trả lại. Cậu ta đồng ý, khi nhận đc bô cậu ta đã tắt máy và không chuyển khoản trả tiền lại cho tôi. Số tiền 3tr. Giờ tôi muốn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt của tôi số tiền 3tr. Thủ tục cần những gì. Liệu tôi có đòi lại được số tiền đã mất không. Xin cảm ơn luật sư mong được giải đáp thắc mắc
Tôi có nhận làm một cái nhà của người quen lên không làm hợp đồng xây dựng mà chỉ nói chuyện bằng miệng trong lúc làm có ứng tiền mấy lần rồi còn làm xong đo thanh toán anh ta cãi nhau lật lọng không thanh toán thì tôi có kiện vào tội lừa đảo tiền cô
Thưa a cho em đặt câu hỏi: E làm thủ tục đi du học nhật bản và đã nạp 20 triệu đồng cho a Thái. Sau đó a Thái đưa em đến trung tâm học.Nhưng sau này trường em đăng ký đi du học trục trặc không đi được nên em xin rút lại hồ sơ. Bên trung tâm tính cho em tiền học phí,ký túc hết 5 triệu 1. Nhưng bên a Thái có dấu hiệu lừa đảo không thánh toán lại tiền cho em. Trường hợp của em có thể khởi kiện được không. Em còn giấy nạp tiền 20 triệu làm bằng chứng. Và nêu kiện thì thủ tục thế nào? Em xin chân thành cảm ơn
Khoảng năm 2014 khi được anh Đ.. ngỏ ý muốn giúp tôi xin vào biên chế vì tôi hiện là GV hợp đồng tại một trường cấp 2 gần nhà.Ban đầu tôi chưa đồng ý nhưng rất nhiều lần anh đến nói chuyện, thuyết phục và với sự nhẹ dạ cả tin của gia đình chúng tôi đã đồng ý.Anh là người cùng trường với tôi nên sau khi thỏa thuận anh yêu cầu tôi đưa 280 triệu đồng.Số tiền được đưa làm 3 lần:Lần 1/50tr, lần 2/160tr, lần 3/70tr.Chúng tôi thỏa thuận sau 1 năm nếu không lo được thì a phải hoàn lại tiền.Anh chấp thuận nhưng đến nay đã 2 năm công việc của tôi vẫn không có tiến triển và hiện tại anh ta đã bỏ trốn.Vậy tôi muốn hỏi anh ta sẽ bị quy vào tội danh gì trong trường hợp trên?
Xin chào luật sư. ! E tên là Vân đang là sinh viên. Vì muốn có thêm thu nhận e đã xin đi làm bảo vệ cho công ty bảo vệ TC khi vào làm e có ý 1 bản hợp đồng. Có ghi là trong thời gian đi làm nếu như muốn nghỉ việc thì báo trước 30 ngày nhưng sau này trong thời gian làm việc thì báo là muốn nghỉ thì phải viết đơn trước 45 ngày. Và e đã là dc 3 tháng sau đó e xin nghỉ và đã làm đơn xin nghỉ việc đúng quy định là 45 ngày. E lên công để nhận lương nghỉ việc thì bộ phận kế toán bảo là bây giờ k trả phải đungs quy định công ty là 2 tháng sau sẽ trả. E đã chờ tới thời gian quy định thì công ty không trả cho e. E gọi lên cty thì họ bảo Sếp đi công tác ở Úc không kí duyệt lương dc họ bảo đầu tuần đi. E cũng đợi đến đầu tuần nhưng khi e gọi lại thì họ bảo là công ty có quy định mới dời lại 1 tháng mới trả e cũng chờ vì e nghỉ là họ sẽ trả. Nhưng đến ngày hẹn họ không trả cho e và còn bảo e tiếp tục chờ. Họ nói là họ đã làm hết trách nhiệm và sếp của bọn họ không kí duyệt lương thì là sao mà trả. Hiện tại họ đang giữ của e 3.500 ngàn đồng ( Chưa trừ một số khoảng tiền vô lý của công ty ) E muốn hỏi luật sư nếu e tố cáo họ lừa đảo ra công an và bắt họ chịu trách nhiệm có được không và có mất nhiều chi phí không?
kính chào luật sư tôi có một số thắc mắc liên quan đến việc nợ khó đòi mong luật sư tư vấn từ tháng 7/2014 tôi có cho bạn tôi mượn số tiền 65 triệu đồng việt nam. Bạn tôi hứa nhiều lần sẽ trả nhưng không trả, và tôi đã quyết định băt họ phải viết giấy tay, và họ đã viết giấy tay hưa tơi 3/2016 sẽ trả cho tôi số tiền 65 triệu đó. nhưng tới hẹn thì bạn tôi chỉ trả cho tôi có 20 triệu. số tiền còn lại là 45 triệu bạn tôi lại hứa tới 4/2017 sẽ trả đủ. số tiền tôi cho bạn tôi mượn là tôi mượn từ nhiều người, nên tôi muốn lấy lại tiền để trả cho ngươi tôi mượn. vậy xin luật sư tư vấn cho tôi biết tôi có nên kiện ra tòa về tội lừa đảo không? nếu kiện thì thủ tục ra sao? phí kiện có mắc không? liệu tôi có thắng kiện không, vì tôi chỉ giữ mỗi giấy viết tay của họ, và chỉ biết họ đang cư trú nơi gia đình của họ. rất mong được sự hồi đáp từ phía luật sư, xin chân thành cảm ơn
Em mua hàng trên mạng và bây giờ mất tiền oan. em lên mạng và đặt 3 chiếc điện thoại 5s hàng quốc tế trị giá 10,5 triệu đồng và nhận hàng qua bưu điện, khi bóc bưu phẩm mới biết mình bị lừa vì bên bán gửi cho mình điện thoại tàu. nhưng tiền thì em gửi rồi. em có gọi điện cho người bán và bảo trả lại vì hàng không giống cam kết. nhưng anh này gạt đi và nói chuyện rất khó nghe. em phải làm sao ah ?

 Các dấu hiệu của tội phạm
 
1. Chủ thể
 
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
 
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
 
2. Khách thể
 
Quan hệ sở hữu
 
Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.
 
3. Mặt khách quan của tội phạm
 
- Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.
 
Lưu ý: Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
 
- Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)
 
Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội
 
4. Mặt chủ quan của tội phạm
 
- Lỗi cố ý
 
- Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)

Như vậy, đối chiếu theo quy định của Điều 139 Bộ luật Hình sự và những phân tích ở trên thì hoàn toàn có thể thấy rằng người này đã có dấu hiệu lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn do đó, để đảm bảo quyển lợi của mình bạn cần phải làm đơn tố giác gửi lên cơ quan công an, cơ quan điều tra để được xem xét và giải quyết.

kính chào luật sư,hiện tại em đang rất bối rồi,em rất mong được sự tư vấn của luật sư,chuyện là như thế này: tháng 3/2014 em cho mượn số tiền 500t, đến tháng 9 người đó trả cho em ,cuối tháng 3 /2015 người nhà của người đó xông vào nhà em,dùng vũ lực đánh đập em,lấy đi số tiền hơn 200 t và bắt em viết giấy bán xe,và cưỡng ép em sang tên căn nhà trị giá 240t,rồi người em cho vay số tiền đó nói làm giấy viết tay vậy số tiền 500t,đến nay không những trả mà còn kiến em lừa đảo chiếm đoạt tài sản,e đang ra bối rối,mong nhận được sự tư vấn của quy luật sư,em xin cảm ơn

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì người mà bạn vay tiền đã thực hiện những hành vi: sử dụng vũ lực với bạn, xâm phạm chỗ ở của bạn và cưỡng ép bạn giao tài sản của bạn. Như vậy, có thể thấy rằng người đó có thể cấu thành nên các tội như:

Điều 135 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân."

Điều 124 Bộ luật Hình sự:

"Điều 124. Tội xâm phạm chỗ ở của công dân

1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm."

Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: 

"Điều 25. Trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1. Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

2. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho tổ chức đã báo tin, người đã tố giác tội phạm biết.

3. Các tổ chức, công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ."

Căn cứ theo quy định pháp luật trên thì khi người đó có dấu hiệu của tội phạm thì bạn hoàn toàn có quyền làm đơn tố giác người lên cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê