Sau đó tôi có đăng 1 bài lên youtube để mọi người biết mà né. Vào đầu tháng 9 có 1 người sống tại Tân Biên, Đồng Nai liên lạc và bảo tôi có người tên Iris đang tiếp cận cháu gái chị và mạo nhận mình là người philippin và là nam giới. Sau nhiều hình ảnh và số điện thoại đối chứng. Chúng tôi phát hiện đó chính là cô Nguyễn Thị T. Vào ngày 9/9, tôi ở Đà Lạt phối hợp cùng gia đình nạn nhân bắt được và giao cho công an phường Tân Biên, Đồng Nai. Tại đây cô khai nhận 1 nội dung hoàn toàn sai với sự thật và không nhận đã mượn tôi số tiền trên như lời khai ban đầu tại công an tỉnh Lâm đồng.

Sau khi làm việc cô chỉ khai nhận có giữ của nạn nhân An ở đồng nai 1 thẻ có tài khoản 10 triệu,1 nhẫn vàng và 1 xe máy. Nhưng số tiền đó đa phần cô tiêu sài cùng với bé An và cô sẽ trả lại 1 số ít cô dùng 1 mình. Sau khi lấy lời khai công an phường Tân biên ra quyết định cô không phạm tội và đã thả người vào sáng nay. Trên đây là sự việc đã diễn ra tôi cần trình bày. Tôi mong công ty giải đáp giúp:  khi cô T mượn tiền bảo là với mục đích mua bán bất động sản và hoàn trả sau 1 tuần nhưng hứa nhiều lần không trả và khi tìm hiểu tôi biết cô không dùng số tiền vào mục đích cô nói khi vay mượn mà là để chơi game bắn cá và cuộc những vui ở vũ trường. Sau đó lại có lời khai man tại công an phường Tân biên,như thế có bị khép vào tội lừa đảo? Đang rất cần sự giúp đỡ của công ty và pháp luật. Nếu cần hợp tác kí hợp đồng giải quyết thì tôi rất sẵn lòng.

Xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn về pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chị T đã có hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, pháp luật hình sự có quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

C) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Tái phạm nguy hiểm;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140 BLHS có nhiều điểm giống nhau nhưng là hai tội độc lập. Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của hai tội này hoàn toàn khác nhau. Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ. Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước. Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản. Thủ đoạn gian dối là nguyên nhân nhận được tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản ấy. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù sự chiếm đoạt tài sản có tính chất gian dối. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản cho người phạm tội. Họ nhận được tài sản từ chủ tài sản một cách hợp pháp , ngay thẳng. Sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản ấy. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín (phản bội lòng tin) của chủ tài sản. 

Bạn có nói  khi chị T mượn tiền bảo là với mục đích mua bán bất động sản và hoàn trả sau 1 tuần nhưng hứa nhiều lần không trả và khi tìm hiểu bạn biết chị T không dùng số tiền vào mục đích chị T đã nói khi vay mượn mà là để chơi game bắn cá và cuộc những vui ở vũ trường. Như vậy, chị T đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140 BLHS; cụ thể chị T sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a, khoản 3 Điều 140. Bạn có thể làm đơn khởi kiện lên công an tỉnh Lâm đồng hoặc nơi chị T cư trú để yêu cầu xử lý theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự.