1. Khi nào phải phẫu thuật người chết trong vụ tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi tên T hiện cư ngụ xã Châu Điền, Huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. 19h30' ngày 13/7/2014 (ngày chủ nhật) tôi được thông tin từ công an quận Bình Tân gọi về báo em trai tôi té xe bất tỉnh trên đường Võ Văn Tiệt. 10 phút sau tôi tới hiện trường thì các anh bảo đã chuyển vào BV chợ rẫy TPHCM, khoảng 15 phút sau đó tôi có mặt tại phòng cấp cứu đặc biệt của BV, không tìm thấy em tôi, 1 điều dưỡng nói có 1 ca vô danh vừa được chuyển qua nhà xác. 

Tôi muốn hỏi việc chuyển gấp như vậy có đúng không? Tôi đến nhà xác  số 94 Thuận Kiều  lúc 20 gờ để xem mặt ca vô danh. đây chính là em tôi. tôi xin được nhận xác về để lo hậu sư, 1 anh bên nhà xác ra giá 20 triệu đồng trong đó gồm có Hàn, xe vận chuyển thi thể về huyện Cầu kè, Trà vinh và chi phí thuê bác sĩ khám nghiệm tử thi. Sau khi thỏa thuận, bên nhà xác bớt chi phi xuốn còn 15 triệu, tôi chấp nhận khoản phí này. vài phút sau 1 anh công an hiện trường của quận bình tân và 2 bác sĩ phẩu thuật đã chạy xe gắn máy tới. Trước tiên anh công an mời tôi vào phòng thông báo sẽ tiến hành phẫu thuật và xin tiền bồi dưỡng cho bác sĩ phẫu thuật, tôi không đồng ý với chi phí phát sinh này, anh ta bảo " để tôi giúp cho". Tôi ngồi đợi khoảng 3 tiếng sau thì em tôi đã phẫu thuật xong và được chuyển ra từ nhà xác để chuẩn bị liệm. Tôi rất ngỡ ngàng, và xin được xem thi thể thì thấy đường phẫu thuật ở bụng rất dài tôi muốn hỏi việc phẫu thuật được thực hiện trong nhà xác có đúng hay không? trong khi phẫu thật mà không có biên bản nào được ký có đúng hay không. Trong lúc phẫu thuật mà không thông báo cho người thân vào xem là đúng hay không?

Đến giờ tôi vẫn chưa biết ai đã chuyển em tôi đến bệnh viện và nhà xác. Nếu những hành vi trên là sai luật thì tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của gia đình mình. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Kính thư,

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, Quy trình xử lý tai nạn giao thông được quy định rõ trong Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA về quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ. Theo đó, việc cấp cứu người tai nạn được quy định tại khoản 1 Điều 4 như sau:

" Điều 4. Những việc làm ngay khi đến hiện trường

Cảnh sát giao thông hoặc các lực lượng Cảnh sát khác khi đến nơi xảy ra tai nạn giao thông cần làm ngay những việc sau:

1. Tổ chức cấp cứu người bị nạn:

a) Đánh dấu vị trí người bị nạn trước khi đưa đi cấp cứu

Trường hợp sử dụng phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông để đưa người bị nạn đi cấp cứu phải đánh dấu vị trí của phương tiện, sơ bộ ghi nhận các dấu vết trên phương tiện, tạm giữ giấy tờ của phương tiện và giấy tờ của người điều khiển phương tiện;

b) Đánh dấu vị trí người bị nạn đã chết và che đậy nạn nhân;

Trường hợp người bị nạn đã chết có thể gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng đến sự đi lại, thì đánh dấu vị trí người bị nạn rồi đưa vào lề đường che đậy lại."

Như vậy, khi người bị tai nạn được chuyển đến bệnh viện thì việc cấp cứu cũng như tình hình sức khỏe của người bị tai nạn phụ thuộc vào bệnh viện. Vì vậy, việc chuyển qua nhà xác khi xác nhận người bị tai nạn chết là hoàn toàn hợp lý.

 Thứ hai, về Nguyên tắc xử lý tai nạn giao thông có người tử vong quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 3 Quyết định này như sau:

" b) Khi nhận được báo cáo hoặc khi Cảnh sát giao thông xác định:

- Vụ tai nạn giao thông có người chết tại hiện trường (kể cả chết trên đường đi cấp cứu) thì phải báo ngay cho đơn vị Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thụ lý điều tra theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 768/2006/QĐ-BCA (C11) ngày 20/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an (dưới đây gọi tắt là Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Vụ tai nạn giao không có người chết tại hiện trường thì phải cử ngay cán bộ, chiến sỹ hoặc báo ngay cho đơn vị Cảnh sát giao thông thụ lý điều tra theo quy định tại Điều 7 Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Trường hợp liên quan đến người nước ngoài, thì thông báo cho Sở Ngoại vụ; liên quan đến người, phương tiện của Quân đội thì thông báo cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền trong Quân đội để biết và phối hợp với lực lượng Cảnh sát thực hiện công tác điều tra ban đầu "

Việc khám nghiệm tử thi được quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

" Điều 151. Khám nghiệm tử thi

Việc khám nghiệm tử thi do Điều tra viên tiến hành có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến.

Trong trường hợp cần phải khai quật tử thi thì phải có quyết định của Cơ quan điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành. Việc khai quật tử thi phải có bác sỹ pháp y tham gia.

Khi cần thiết có thể triệu tập người giám định và phải có người chứng kiến.

Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được thông báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi."

Như vậy, việc khám nghiệm tử thi phải có người chứng kiến. Việc khám nghiệm tử thi phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 154, Điều 95 và Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

" Điều 154. Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra

Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 và Điều 125 của Bộ luật này."

" Điều 95. Biên bản

1. Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất.

Trong biên bản ghi rõ địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, những người tiến hành, tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động tố tụng, những khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.

2. Biên bản phiên toà phải có chữ ký của chủ toạ phiên toà và Thư ký Tòa án. Biên bản các hoạt động tố tụng khác phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định trong từng trường hợp. Những điểm sửa chữa trong biên bản cũng phải được xác nhận bằng chữ ký của họ."

Điều 125. Biên bản điều tra

1. Khi tiến hành điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

Điều tra viên lập biên bản phải đọc lại biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ biết quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Nhận xét đó được ghi vào biên bản. Người tham gia tố tụng và Điều tra viên cùng ký tên vào biên bản.

2. Trong trường hợp người tham gia tố tụng từ chối ký vào biên bản, thì việc đó phải được ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

3. Nếu người tham gia tố tụng vì nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do; Điều tra viên và người chứng kiến cùng xác nhận.

Người không biết chữ thì điểm chỉ vào biên bản."

Như vậy, Nếu việc khám nghiệm tử thi không tuân thủ quy định trên Bạn và gia đình có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình theo thủ tục quy định tại Luật khiếu nại năm 2011 như sau:

 Về trình tự khiếu nại được quy định tại khoản 1 Điều 7:

" 1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."

Về hình thức khiếu nại quy định tại Điều 8:

"1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;

b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này."

Về thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 9:

"Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

>> Xem ngay:  Tai nạn giao thông gây chết người hai bên gia đình có thể tự hòa giải không liên quan đến pháp luật được không ?

2. Tư vấn về tai nạn giao thông khi bị mất lái ? 

Xin chào luật sư. Em tên là hoàng nga. Vào ngày 31/10 vừa rồi trên đường chồng em chở em đi từ bình phước về sài gòn thì gặp phải tai nạn. Hôm đó do trời mưa rất to nên chồng em chạy xe máy rất chậm nhưng chẳng may vấp phải ổ gà nên bị mất tay lái, vừa lúc đó có xe tải nhỏ chạy từ đằng sau và quẹt vào xe em. 

Chồng em may mắn chỉ bị sơ sát nhẹ,còn em lúc đó bất tỉnh và được cấp cứu,e nằm viện khoảng 18 ngày được chuẩn đoán bị dập gan,dập thận( ko phải mổ). (chồng e lúc đó bi mat tay lai nen cũng ko nhớ được là có lấn sang phần đường ô tô hay không,và 2 xe thì bị giữ ngay lúc đó)bên phía tài xế sau 10 ngày có lên thăm hỏi được 2 lần. Công an thì có gọi chồng em hỏi thăm sức khoẻ và xin thông tin. Nhưng em xuất viện được 2 tuần rồi( tính từ lúc bị tới giờ là hon 1thang) nhưng công an chưa gọi lên giải quyết. Và em thắc mắc là không biết lỗi thuộc về ai, và phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Em rất mong nhận được hồi âm và tư vấn bên phía luật sư. Em xin chân thành cám ơn.  

- Hoang Nga

3. Muốn lấy lại phương tiện giao thông sau tai nạn ?  

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày 19/11/2016 tôi điều khiển xe ô tô con đi đến cơ quan làm việc, trên đường đi có xảy ra vụ tai nạn giao thông cụ thể như sau: tôi đang đi trên quốc lộ 38 hướng bắc ninh – hải dương đến ngã 3 có nhánh rẽ bên phải vào thị trấn hồ huyện thuận thành. Đột nhiên có một thanh niên đi xe máy hướng ngược chiều chuyển hướng sang nhánh rẽ và đâm trực diện vào xe của tôi (hai xe cùng hư hỏng nặng). Tại vị trí va chạm xe của tôi đã đi qua lối rẽ 2m, kết qua thanh niên đó bị gãy chân. Ngay sau đó tôi đã đưa người bị nạn đi viện và gọi điện cho csgt đến xử lý. Từ đó đến nay đội csgt thuận thành đã mời tôi đến khám xe và lấy lời khai. Đồng chí đội trưởng csgt có thông báo kết luận của đội giao thông là tôi đúng.
Tuy nhiên thiện chí của tôi cũng muốn giúp người bị nạn nhưng gia đình không đồng ý. Hiện nay đội csgt thông báo cho tôi là hồ sơ đã được chuyển sang cơ quan điều tra thụ lý.
Vậy luật sư cho hỏi tôi muốn lấy xe để sử dụng cần thủ tục gì ? Trân trọng
- Chinh Hoang

4. Xử lý phương tiện bị tạm giữ gây tai nạn giao thông ?

Em Chào luật sư. Nhà em có xe tải chở vật liệu xây dựng chẳng may gây tai nạn giao thông va vào em bé sinh năm 2005 và em bé bị cưa chân đến nửa đùi non. Xe nhà em bị công an giữ hơn 1 tháng nay vẫn chưa xin về được. Sức khỏe của em bé đã ổn định và xuất viện về nhà rồi. Mong luật sư tư vấn giúp em làm thế nào để xin xe về được ạ và theo luật thì xe của em bị giữ trong bao lâu ? Em xin cảm ơn!

Xử lý phương tiện gây tai nạn giao thông?

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Dựa trên những thông tin bạn cung cấp có thể xác định được hành vi của bạn là vi phạm hành chính. Theo đó, ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan người điều khiển và phương tiện vi phạm.

Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính như sau:

“1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:

a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật này;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều này.

2. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này phải được chấm dứt ngay sau khi xác minh được tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt, hành vi vi phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội hoặc quyết định xử phạt được thi hành…

............

8. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

9. Mọi trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm; trường hợp không xác định được người vi phạm, người vi phạm vắng mặt hoặc không ký thì phải có chữ ký của 2 người làm chứng. Biên bản phải được lập thành 2 bản, người có thẩm quyền tạm giữ giữ 1 bản, người vi phạm giữ 1 bản…”.

Như vậy, theo quy định tại Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính vừa trích dẫn ở trên, thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối chiếu với trường hợp của bạn, nếu thời hạn giữ xe của bạn đã quá thời hạn theo quy định và bạn đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt hành chính theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cơ quan công an vẫn chưa trả lại xe, bạn có thể làm đơn gửi lên cơ quan công an yêu cầu cơ quan này xem xét, giải quyết nhanh chóng vụ việc để trả lại xe cho bạn theo đúng quy định của pháp luật.

>> Xem ngay:  Bị tai nạn giao thông do lỗi của bên gây tai nạn ? Yêu cầu Viện Kiểm Sát, Công an khởi tố vụ án như thế nào ?

5. Trách nhiệm thuộc về ai khi tai nạn giao thông xảy ra ?

Chào Luật sư! Tôi có vấn đề cần nhờ Luật sư giải đáp thắc mắc. Xe tôi đang lưu thông trên đường (xe 7 chỗ) thì phía trước có một người đàn ông say rượu chạy xe máy lạng lách phía trước, xe tôi chạy phía sau. Khi thấy người đàn ông chạy xe vào sát lề thì xe tôi tăng tốc (trước đó chạy chậm, vì sợ người đàn ông đó gây tai nạn tránh không kịp) để chạy qua xe của người đàn ông đó (xe tôi vẫn chạy bình thường, không lấn len hay gì hết, vì thấy người đó chạy xe cứ lạng lách lại say rượu, nên định vượt lên sợ chú ấy say sẽ chạy lung tung lại đâm phải mình), nhưng khi vừa vượt lên thì người đàn ông bất ngờ rẽ trái (rẽ bất ngờ, không để ý đến phía sau kiểu như say rượu không ý thức được bản thân, cứ chạy bất kể). Xe tôi chạy đến đụng từ phía sau xe chú ấy, chú ấy bị thương phải đi bệnh viện, nhưng không nghiêm trọng.
Vậy trong trường hợp này thì lỗi của bên nào, bên xe 7 chỗ có phải chịu trách nhiệm hay bồi thường gì cho nạn nhân không? ( Tài xế không phải chủ xe, vì có người bao xe nên cho tài xế của họ lái luôn). Chủ xe có phải chịu trách phiệm hay bồi thường không? 
Mong Luật sư tư vấn giải đáp giúp tôi. Xin cảm ơn!

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về vượt xe và chuyển hướng xe như sau:

Điều 14. Vượt xe

1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

Điều 15. Chuyển hướng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, nếu người lái xe đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về vượt xe, và lỗi hoàn toàn là do người bị nạn thì chủ xe sẽ không phải bồi thường theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự 2005.

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Lúc này cả người lái và người chủ xe đều không phải bồi thường. Trong trường hợp người lái xe có lỗi (ví dụ không sử dụng còi báo hiệu khi vượt) thì người chịu trách nhiệm bồi thường là chủ xe (người đứng tên sở hữu chiếc xe). Chủ xe có thể yêu cầu người lái xe chịu trách nhiệm liên đới.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn về bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông ?

6. Tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông?

Chào luật sư, Cháu có một câu hỏi cháu cần sự giúp đỡ và tư vấn cho cháu hiểu.Em cháu trong lúc điều khiển cho máy đi cùng chiều với bên tay lái của chiếc xe ben và có sự va chạm. Hiện em cháu bị thương rất nặng một chân đứt 2 mạch máu , chân còn lại thì bị gãy, bể trán vả thương tích đầy người. 

Hôm đó gia đình cha mẹ cháu và 2 vợ chồng cháu thì đi khám bệnh ở sài gòn. Em cháu bị tai nạn lúc đó có một chú nói bên người thân của chủ xe ben đưa em cháu đến bệnh viên và gia đinh cháu chạy về làm thù tục nhập viên cho em và mới phẩu thuật được một chân nói lại mạch máu còn chân còn lại do sức khỏe của em cháu còn yếu nên chưa có mổ. Trong quá trình tại nạn thì gia đình cháu không có người thân ở chỗ tai nạn, người thân chủ xe có đóng trước viện phí 5 triệu phẩu thuật và đưa thêm 5 triệu để tới đóng tiền thì về và hứa hôm sau lên lại.

Nhưng gia đình cháu thấy hôm sau không thấy ai lên, gia đình cháu gọi thì chủ xe bảo lo đi đem biên lai về nhưng hiện tại gia đình cháu khó khăn và nhờ chủ xe xem hổ trợ để giúp em cháu nhưng cũng không lên và cũng không hỏi thăm. Và gia đình cháu có xuống nói chuyện với bên cảnh sát thì cảnh sát nói là điều trị và gửi lại quá đơn, khi gia đình cháu tìm đến chủ xe thì vợ chủ xe nói chuyện với gia đình cháu. Nhưng không chạỵ đụng vào xe để báo chủ xe còn nói là không giúp nữa bên gia đình cháu gọi cho bên phía công an, công an gọi cho ông chủ xe yêu cầu thì bên chủ đưa thêm gia đình cháu thêm 10 triệu nữa nói là tự lo bên chủ xe không lo nữa. Vậy bên cháu muốn làm đơn khiếu nại để bồi thường cho em cháu thì bên cháu phải làm như thê nào ?

Cháu cầu chú tư vấn cho gia đình cháu và cháu mong được sự hồi âm sớm .

Cháu chúc chú luật sư luôn vui vẻ và thành công trong công việc. Trân Trọng, Cháu A.L.

Tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về bồi thường tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo điều 604 Bộ luật Dân sự 2005:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Điều 605 BLDS 2005 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

"1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Đầu tiên phải xác định việc gây ra tai nạn do lỗi của ai. Do bạn không cung cấp cụ thể thông tin về việc ai là người gây ra tai nạn nên có thể chia ra làm 3 trường hợp:

  • Nếu em bạn là người gây ra tai nạn thì theo điều 617 Bộ luật Dân sự quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi như sau:

"Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

Theo quy định của pháp luật dân sự và Điều 13 Luật giao thông đường bộ thì ô tô được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì vậy, việc bồi thường hại sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005:

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

Do vậy trong trường hợp này em bạn dù bị thiệt hại nhưng vẫn phải bồi thường với mức bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình đối với xe ben đó, và xe ben cũng vẫn phải bồi thường cho bạn trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 điều 623 BLDS 2005. Mức bồi thường được áp dụng theo nguyên tắc bồi thường như điều 605 BLDS năm 2005. 

Vấn đề bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm trước hết do hai bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.  Việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể hơn, tại  Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTPngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-  Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

-  Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường"

Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngNghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hướng dẫn Điều 605 BLDS 2005 như sau:

- Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 605 BLDS. Cần phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội.

- Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:

+ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.

+ Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Toà án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.

Như vậy, để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại bạn và người gây thiệt hại có thể tự thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường.

Nếu hai bên không thỏa thuận được thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của BLTTDS. Trường hợp này, hồ sơ gồm:

- Đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

- Các tài liệu liên quan đến yêu cầu khởi kiện: chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý; về thu nhập của người bị thiệt hại; giấy chứng tử của vợ bạn....

- Chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có chứng thực).

Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của em bạn thì chủ xe ben không phải bồi thường.

  • Nếu tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của chủ xe ben thì em bạn không phải bồi thường và xe ben phải bồi thường như trường hợp trên.
  • Nếu tai nạn do lỗi của cả hai bên thì hai bên đều phải bồi thường như trường họp 1.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách qua tổng đài tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến 1900.1940 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê