1. Quy định của pháp luật về tội danh cho vay nặng lãi ?

Điều 476 Bộ luật Dân sự quy định, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Theo quy định của Bộ Luật dân sự, việc vay mượn giữa các cá nhân với nhau theo quy định của Bộ luật Dân sự đã hình thành quan hệ hợp đồng vay tài sản.

Theo Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

.Tư vấn Quy định của pháp luật về tội danh cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.


Theo câu hỏi của bạn, bạn vay của của một người phụ nữ 18 triệu đồng, lãi suất 30%/tháng. Một thời gian sau, người này đòi tiền lãi 180.000 đồng mỗi ngày, tổng tiền lãi là 30 triệu đồng.

Như vậy, việc thỏa thuận mức lãi suất 30%/tháng trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Như vậy, chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 13,5%/năm. Hiện tại, nếu bạn và người này không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".


Theo quy định của điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên. Mức lãi suất 30%/tháng bạn phải thỏa thuận khi vay đã cao gần 26 lần so với quy định của pháp luật.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Trân trọng./.

2. Vay vốn công ty tài chính có phải vay nặng lãi?

Xin luật sư cho em hỏi: Em có vay số tiền 10553000 vnd của công ty tài chính Home Credit, khoản vay trong 34 tháng, lãi suất là 6,17%/tháng thì có gọi là cho vay nặng lãi không?

-Lê Công Doanh

Trả lời:

Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng

1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên, các công ty tài chính có quyền ấn định về lãi suất của công ty mình và bạn có quyền thỏa thuận với công ty về mức lãi suất đó. Vì vậy, với mức lãi suất 6.17%/tháng của bạn trong trường hợp này thì công ty Home Credit sẽ không bị coi là cho vay nặng lãi.

3. Xử lý việc cho vay tiền không trả ?

Thưa luật sư! Chào luật sư em muốn hỏi là nhà em có cho vay tiền và có viết giấy giờ đến hạn mà không chả thì giải quyết tnao vậy luật sư?

Em xin cảm ơn

-Lê Trung

Trả lời:

Trong trường hợp này, do người vay và người cho vay đã có giao kết hợp đồng nên việc người vay không trả lại số tiền vay có thể bị khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc chiếm đoạt dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này

Do bạn chưa cung cấp cụ thể thông tin về số tiền vay nên chưa thể xác định được người nghe sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự hay chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác như sau:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác

Nếu bạn biết nơi người đó cư trú, tạm trú của người vay thì bạn cần báo với cơ quan công an cấp xã, phường nơi người đó cư trú, tạm trú trước. Trong trường hợp bạn không biết nơi người đó cư trú, tạm trú thì bạn cần trình báo với cơ quan công an cấp xã, phường nơi bạn cư trú để được giải quyết.

4. Thế nào là cho vay nặng lãi ?

Thưa luật Sư! Luật sư có thể giúp em được không ạ vì em đang có câu hỏi thắc mắc ạ! Em có vay lãi cho một người hàng xóm nhưng em đứng tên vay hộ, giờ người đó cố tình không trả, lãi xuất vay là: Vay 10 triệu thì mỗi tháng phải trả 750.000đ tiền lãi. Vậy nếu em khỏi kiện ra tòa án thì em có bị quy vào tội cho vay nặng lãi không ạ? Và hiện thời hạn vay trên hợp đồng đã quá hạn trả từ ngày 3/2/2016 nếu như quá 2 năm mà em mới khởi kiện ra tòa thì có được giải quyết không ạ? (trường hợp mà quá 2 năm em mới làm đơn khỏi kiện thì thì điều luật dân sự mới của pháp luật thì em có đòi được nợ không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn!

-Ngọ Tạ Văn

Trả lời:

Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì mức lãi suất được cho vay ở đây là 7.5%/ tháng tức là 90%/ năm. Mức lãi suất này đã vượt quá định mức 20% mà luật Dân sự quy định. Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm"

Căn cứ theo quy định trên thì với mức lãi suất 90%/ năm ( chưa vượt quá 10 lần mức lãi suất quy định là 20%/năm ) nên bạn sẽ không bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi.

Điểm d Khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi: "Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay". Mức lãi suất 90%/ năm vượt quá hạn mức 150% của 9% tức là 13,5%/ năm. Do đó, bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức từ 5.000.000- 15.000.000 đồng.

Quy định của pháp luật về tội danh cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.6162

5. Đòi lại khoản tiền đã cho vay ?

Em xin chào luật sư. Em có một vấn để không rõ muốn hỏi luật sư ạ. Qua thời gian đi học là sinh viên em có quen một người cùng quê người này làm ở 1 công ty giày da qua thời gian thì chơi thân nên em đã cho người này mượn 30 triệu và có ghi giấy tay,số CMND 2 bên cùng ký vì nghĩ chơi thân nên không công chứng không ghi hạn trả nhưng đến nay đã quá lâu và người này đột ngột nghĩ làm ở công ty nên em đòi lại tiền nhưng người này hẹn nhiều lần và hiện bay giờ chặn mọi thông tin liên lạc như điện thoại,face,zalo...Vậy em có thể khởi kiện ra cơ quan chính quyền và đòi lại số tiền đã cho vay không a ? Mong luật sư giải đáp giúp em ạ. Em cám ơn ạ.

-Nguyễn Ngọc Tâm

Trả lời:

Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc chiếm đoạt dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này

Căn cứ theo điểm a khoản 1 nêu trên thì bạn có thể khởi kiện người đã vay tiền về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do người đó đã nghỉ làm tại công ty nên nếu bạn biết nơi người đó cư trú, tạm trú thì bạn cần báo với cơ quan công an cấp xã, phường nơi người đó cư trú, tạm trú trước. Trong trường hợp bạn không biết nơi người đó cư trú, tạm trú thì bạn cần trình báo với cơ quan công an cấp xã, phường nơi bạn cư trú để được giải quyết.

6. Khởi kiện đòi nợ vay ?

Xin chào Luật sư! Xin nhờ luật sư tư vấn dùm về việc muốn khởi kiện người vay không chịu trả nợ.Tôi là bạn của người cho vay (trong giấy mượn tiền đính kèm mail này) đồng thời là người làm chứng khi hai bên làm giấy vay nợ.Bạn tôi đã nhiều lần đòi nợ nhưng bên vay không trả. Nay muốn khởi kiện người vay. Xin luật sư tư vấn dùm.Xin hỏi thêm luật sư là tôi có thể đứng ra khời kiện thay cho bạn tôi được không, nếu được thì cần thủ tục gì ?

Xin cảm ơn luật sư nhiều!!!

-OANH PHAM

Trả lời:

Trong trường hợp này, do người vay và người cho vay đã có giao kết hợp đồng nên việc người vay không trả lại số tiền vay có thể bị khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 140

Do bạn chưa cung cấp cụ thể thông tin về số tiền vay nên chưa thể xác định được người nghe sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự hay chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính thôi. Tuy nhiên, người này đã có dấu hiệu của hành vi chiếm đoạt tài sản nên bạn có quyền đến cơ quan công an để trình báo hành vi này. Việc tố giác của bạn sẽ được coi là 1 nguồn chứng cứ để cơ quan công an điều tra, xét xử.

Mọi vướng mắc pháp lý về lãi suất các khoản vay hay các vấn đề pháp lý khác Hãy gọi1900.6162 để được đội ngũ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê