Khi em biết anh ta không phải làm như lúc đầu mà anh ta lấy 10 triệu nạp và 10 triệu trả nợ người ta, tài khoản chỉ được 10 triệu. Em không muốn tiếp tục và muốn rút lại thì anh ta nói tiền 10 triệu tài khoản và 10 triệu thế chấp nhà mạng không lấy lại được phải đợi hết 30 ngày mới lấy lại được. Em muốn trình báo công an, em biết em cũng không tránh được tội.

1.Cho e hỏi nếu truy cứu em bị tội gì?

2.Anh ta lợi dụng 20 triệu của em, nạp 10triệu còn 10triệu còn lại anh ta trả nợ.Cho em hỏi anh ta có phạm tội cờ bạc và lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không? Vì mọi việc kinh doanh anh ta điều làm cả. vì chia 5.5 laptop của em. Nếu bắt có phải laptop của e sẽ bị công an thu giữ không.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.Đ.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất: Về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bạn.

Đối với Tội đánh bạc được quy đinh tại điều 248 Bộ luật hình sự 2009  như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

Hơn theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự về Tội đánh bạc được quy định như sau:

Điểm b khoản 4 Điều 1 quy định: “…Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa... (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.”

Cấu thành tội phạm

- Chủ thể: Cá nhân có năng lực TNHS và đủ 16 tuổi.

- Khách thể: An ninh, an toàn công cộng.

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý.

- Hành vi khách quan: Hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền hay hiện vật.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, bạn đã hùm vốn với số tiền là 20 triệu để tham gia đá banh trên mạng, nếu thỏa mãn yếu tố cấu thành nêu trên bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định tại điều 248 BLHS. 

Thứ hai: Về việc anh tham gia cùng bạn có phạm tội đánh bạc và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo như thông tin mà bạn cung cấp anh này có rủ bạn hùm vốn để đá banh trên mạng, bạn đã đưa cho anh ta 20 triệu để anh ta để anh ta làm.

Hành vi đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi số tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc tuy dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Ngoài hành vi đánh bạc, nếu người đánh bạc còn rủ rê, lôi kéo người khác tham gia cùng đánh bạc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về các tội tương ứng.

Như vậy, nếu thỏa mãn những yếu tố cấu thành như đã phân tích nêu trên thì anh ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. 

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 2009 quy định:
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng  đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội .Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

b)Về hậu quả
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

2. Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
3. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Tuy nhiên cần lưu ý:
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo.

Như vậy, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì anh ta đã dùng số tiền 20 triệu đồng của bạn không chỉ thực hiện cho việc đánh bạc mà còn trích 10 triệu ra để trả nợ và nói là thế chấp 10 triệu đối với nhà mạng. Theo đó, nếu anh ta không chịu trả tiền cho bạn, mà đủ yếu tố cấu thành như đã phân tích nêu trên bạn có thể khởi kiện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS. Vì vậy trong trường hợp này bạn cần xác định bạn của bạn có hành vi gian dối với vấn đề bạn và mục đích của hành vi gian dối này là gì.

Thứ ba: Về việc tịch thu chiếc máy laptop của bạn.

Căn cứ Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

"Điều 76. Xử lý vật chứng

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Như vậy trong trường hợp này nếu trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền nếu xét thấy vật chứng trên không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì laptop sẽ được trả cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê