1. Từ ngày 1/1/2018 trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu.

Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu là việc một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình không thực hiện việc cấp dưỡng với những người mà họ có nghĩa vụ cấp dưỡng; được biểu hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà trốn tránh thì những người sau đây có quyền yêu cầu Tòa án buộc nguời đó phải thực hiện cấp dưỡng:

+ Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được cấp dưỡng

+ Người thân thích

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

+ Hội liên hiệp phụ nữ

Người có hành vi trốn tránh cấp dưỡng sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP, cụ thể:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly ôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật

2. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật

Ngoài ra hành vi này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm

Theo đó, hành vi trốn tránh cấp dưỡng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

+ Làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe (ốm đau, bệnh tật...)

+ Hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm

Hình phạt áp dụng: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm

Nếu trường hợp nghĩa vụ cấp dưỡng đã được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn không thực hiện nghĩa vụ, có thể bị xử lý như sau:

Điều 380: Tội không chấp hành án

1. Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm...

Trên đây là bài viết tư vấn của công ty Luật Minh Khuê về việc truy cứu trách nhiệm hình sự khi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, trong trường hợp khách hàng còn bất kì thắc mắc nào về vấn đề cấp dưỡng, trách nhiệm khi không cấp dưỡng có thể trực tiếp liên hệ với tổng đài: 1900.6162 để được hỗ trợ. Trân trọng cảm ơn

2. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại điều 152 luật hình sự năm 1999. Thông tin pháp luật liên quan vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

Điều 152, bộ luật hình sự năm 1999 quy định về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Định nghĩa: tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là hành vi của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Điều luật quy định hai hành vi phạm tội, đó là hành vi từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng và hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà định tội cho chính xác.
Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi “từ chối” và “trốn tránh” thì định tội là: “từ chối và trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”’;
Nếu người phạm tội chỉ thực hiện một trong hai hành vi “từ chối” hoặc “trốn tránh” thì định tội là “từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng” hoặc “trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ hoặc tư vấn luật: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

3. Hướng dẫn yêu cầu chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ?

Thưa luật sư, Vợ chồng em li hôn thuận tình và em là người nuôi con và có quyết định từ 1/11/2015 chồng phải chu cấp nuôi con la 1triệu/tháng. Nhưng không nói rõ là phải đóng chu cấp vào ngày nào hay theo tháng theo quý gì hết và khi em gọi điện thoại cho anh ta hỏi về việc trợ cấp cho con, anh ta nói không chu cấp. Xin hỏi e phải đòi hỏi chu cấp quyền lợi cho con như thế nào và có thể kiện anh ta ra tòa được không?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Theo như quy định trên, chồng của bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn. Trong trường hợp chồng bạn không thực hiện nghĩa vụ này, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội thì:

"Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành

2. Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;

b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời."

Như vậy, trong trường hợp này bạn có thể làm đơn yêu cầu gửi lên cơ quan Thi hành án quận, huyện cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định ly hôn cho bạn và chồng bạn. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đơn, cơ quan thi hành án có trách nhiệm giải quyết và sẽ có những biện pháp cưỡng chế nếu chồng bạn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình.

Những điều cần lưu ý: Bạn cần chú ý về thời hiện thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì thời hiệu bạn được yêu cầu thi hành án là 5 năm kể từ ngày bạn nhận được bản án ; hoặc đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quy định mới về mức tiền trợ cấp nuôi con khi bố mẹ ly hôn?

4. Tư vấn trường hợp người chồng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như thỏa thuận ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Nếu 2 vợ chồng ly hôn và người vợ yêu cầu người chồng phải có nghĩa vụ chu cấp tiền nuôi con, người chồng đồng ý. Tuy nhiên sau khi được tòa án giải quyết cho ly hôn thì người chồng không chu cấp cho con. Trong trường hợp đó thì người vợ cần phải làm gì để buộc người chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!!
Người gửi: P.T

Tư vấn trường hợp người chồng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như thỏa thuận ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Đồng thời, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Như vậy, việc cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn là bắt buộc đối với chồng chị. Do đó, sau khi Tòa án giải quyết ly hôn mà chồng bạn không thực hiện việc cấp dưỡng cho con thì Tòa án sẽ buộc chồng bạn thực hiện nghĩa vụ này (Khoản 2 Điều 107). Bên cạnh đó, bạn và chồng có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng để chồng bạn tự nguyện hơn trong việc cấp dưỡng cho con, theo Điều 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nếu sau khi thỏa thuận mà chồng bạn vẫn không cấp dưỡng thì bạn có thể khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú để được giải quyết, theo Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004:

Điều 27. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án...

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Trân trọng./.

5. Chồng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ?

Thưa luật sư: Nếu ly hôn mà tôi được quyền nuôi con. Nhưng chồng tôi lại không đồng ý cấp dưỡng cho con thì tôi có được yêu cầu cấp dưỡng hay không ạ ?.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Chồng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Theo như quy định trên, người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Với mức cấp dưỡng sẽ do các bên thỏa thuận. Nếu chồng bạn không chịu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bạn có thể yêu cầu chồng bạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình . Trường hợp người này cố tình trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, bạn “có quyền yêu cầu tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”,

Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự,… không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ - CP. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm… theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Những thủ tục, giấy tờ cần thiết để ly hôn và giành quyền nuôi con ?

6. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con như thế nào?

Thưa luật sư! Tôi và chồng tôi sắp ly hôn, tôi có 1 con trai 17 tháng tuổi, hiện tôi đang nuôi dưỡng, ra tòa hòa giải 2 lần nhưng chồng tôi nhất định không trợ cấp nuôi con, anh nói nếu để anh nuôi con thì anh không cần tôi trợ cấp, còn tôi nuôi con anh sẽ không trợ cấp ?
Xin Luật sư tư vấn giúp tôi:

1/ Nếu tôi nuôi con mà chồng tôi không chịu trợ cấp thì pháp luật có xử lý chồng tôi không? Vì một mình tôi không có khả năng nuôi con.

2/ Tôi giao con cho anh nuôi theo yêu cầu của anh có được không?

Xin cảm ơn Luật sư. Mong nhận được câu trả lời sớm từ luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Trợ cấp nuôi con sau khi ly hôn:

- Tại khoản 24, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định

"24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này."

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 58, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

"Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này".

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Theo đó, việc xác định mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Do đó, trước hết, chồng bạn và chồng nên thỏa thuận mức cấp dưỡng cho con, dựa vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng bạn và nhu cầu thiết yếu của con. Nếu bạn và chồng bạn không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc xác định mức cấp dưỡng cụ thể do Tòa án xác định, dựa vào những căn cứ nêu trên.

2. Quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trong trường hợp của bạn, con bạn hiện mới 17 tháng tuổi thì về nguyên tắc sẽ giao cho người mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Vì vậy, nếu vợ chồng bạn có thỏa thuận về việc giao cho chồng bạn nuôi thì Tòa án sẽ ra Quyết định giao con cho chồng bạn trực tiếp nuôi dựa trên cơ sở thảo thuận của vợ chồng bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn và đòi tiền cấp dưỡng nuôi con ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê