Nhưng trong 3 tháng trở lại đây, ngân hàng có tìm đến tôi làm việc vì tiền trả góp hàng tháng hiện nay đã nợ tới 3 tháng, tôi có liên lạc với người bạn kia để giải quyết vấn đề với ngân hàng nhưng người bạn kia có thái độ không hợp tác. Không muốn chịu trách nhiệm về việc trả góp theo hợp đồng mua bán điện thoại. Tìm lý do đổ lỗi cho tôi là không thông báo cho họ để họ thanh toán và giờ họ không có tiền để chi trả và ngỏ ý muốn vay mượn tiền tôi. Tôi có giúp họ trả trước bên ngân hàng và đóng tiền phạt chậm trễ vì đóng tiền cho bên ngân hàng dùm người bạn đó. Hiện tại họ không có khả năng chi trả để mua trả góp chiếc điện thoại đó nữa và khôg muốn đứng ra chịu trách nhiệm với ngân hàng vì từ đầu có nhờ tôi đứng tên trên giấy tờ mua bán.

Xin hỏi công ty luật Minh Khuê là nếu bên Ngân hàng họ khiếu nại kiện tụng tôi nếu tôi không trả đủ số tiền trả góp thì tôi sẽ phạm tội gì và người bạn của tôi sẽ phạm vào tội gì ? 

Rất mong công ty luật Minh Khuê giúp đỡ tôi trong vấn đề này. Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội chiếm đoạt tài sản, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2. Nội dung tư vấn

Vì bạn là người đứng tên trên giấy tờ khi mua trả góp điện thoại cho người bạn, do đó bạn phải chịu các trách nhiệm pháp lý có liên quan đến hợp đồng trên. Trong trường hợp, bạn không chịu tiếp tục đứng ra chi trả số tiền mua trả góp điện thoại, thì bạn sẽ bị khởi tố hình sự theo quy định của pháp luật nếu đủ các dấu hiệu tội phạm. Bộ Luật Hình sự sửa đổi quy định:

"Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Khi bạn nhận được tài sản là chiếc điện thoại (thực chất là bạn của bạn nhận được, nhưng bạn đứng tên trên giấy tờ giao nhận) và kí vào hợp đồng mua điện thoại trả góp, tức là bạn đã vay của ngân hàng một khoản tiền để trả tiền mua điện thoại, việc bạn phải trả tiền hàng tháng là nghĩa vụ đối với ngân hàng. Trong trường hợp bạn dùng thủ đoạn gian dối để không trả tiền cho ngân hàng (trốn nợ), hoặc bỏ trốn hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp nghĩa là bạn đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Do đó bạn sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự tại Điều 140. Bạn cần lưu ý: mức tiền nợ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là từ 4 triệu đồng trở lên, trong trường hợp dưới mức này, bạn chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bạn của bạn là người trực tiếp được lợi từ tài sản mà bạn mua trả góp, tuy nhiên, vấn đề này phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bạn, pháp luật hình sự không can thiệp vào các thỏa thuận dân sự. Mặt khác, bạn là người đứng tên trên tất cả các giấy tờ trong hợp đồng mua bán điện thoại trả góp nên phải chịu tất cả các trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng này.

Nếu ngân hàng cũng như cơ quan công an không chứng minh được bạn sử dụng thủ đoạn gian dối để nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì bạn không bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900 6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê