Làm ăn được hai tháng thì người chủ shop đột ngột về nước, cô gái phiên dịch cũng đi lao động ở nước ngoài (tôi biết chuyện cô gái phiên dịch đi nước ngoài nhưng không biết chuyện người chủ shop về nước). Tôi vẫn giữ liên lạc với cô phiên dịch và hi vọng vẫn còn có thể tiếp tục làm ăn. Một thời gian ngắn sau, tôi không liên lạc được với cô gái phiên dịch nữa. Tôi tìm đến shop thì shop đóng cửa, hàng hóa vẫn ở bên trong. Người chủ cho thuê nhà nói người nước ngoài đó đã đi về nước và giao quyền trông coi lại cho một người bạn ở Việt Nam, mỗi tháng người bạn đó vẫn đóng tiền nhà đầy đủ. Tôi thật sự hoảng sợ bởi vì shop vẫn còn nợ của tôi 100 triệu đồng. Do làm ăn trên uy tín nên tôi không có giữ giấy nợ hay hóa đơn gì. Chủ yếu là nghe theo lời cô gái phiên dịch, nói chủ cô ấy thích, muốn đặt hàng, may xong tôi giao hàng và chủ cô ấy sai cô ấy mang tiền xuống xưởng trả cho tôi, gối đầu đợt này qua đợt khác. Tôi bây giờ phải làm sao để đòi lại tiền của mình? Có thể kiện họ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Nếu kiện thì kiện ai vì người chủ đó đã về nước và cô gái phiên dịch thì nói cô ta chỉ làm công, còn người trông coi thay thế thì nói không biết gì, chỉ giúp nhận và thanh toán tiền nhà mỗi tháng thôi. Tôi cần có những giấy tờ gì để khởi kiện?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

2. Luật sư tư vấn:

Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Để có thể xác định trong trường hợp của bạn, có thể khởi kiện về tội này hay không, cần vào phải căn cứ vào những hành vi trên của người nước ngoài có dấu hiệu của tội phạm hay không. Cụ thể: 

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
Trước hết về mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giá tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.
- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tính gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.
Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Thứ hai về khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Thứ ba về mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Tuy nhiên cần lưu ý:
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.
Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng (như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, thì bạn và người nước ngoài này đã làm việc với nhau được hai tháng. Nếu căn cứ về mặt ý chí của tội phạm:

Trường hợp thứ nhất, nếu người nước ngoài này trước khi thực hiện hành vi lừa đảo thì đã nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bạn, trong trường hợp này, bạn nên kiện người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì họ chỉ muốn thực hiện việc làm ăn với bạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn, cụ thể trong trường họp này là 100 triệu đồng mà người đó đã nhận từ bạn mà chưa trả lại đã đi ra nước ngoài.

Trường hợp thứ hai, giữa bạn và người này thực hiện việc mua bán với nhau ban đầu trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, người nước ngoài không có ý định chiếm đoạt tài sản của bạn mà chỉ muốn làm ăn với bạn bình thường. Nhưng sau thời gian làm ăn, khoảng 2 tháng, người này vì một số lí do nào đó (thiếu tiền, nợ nần, làm ăn thua lỗ,...) đã nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bạn, nhận 100 triệu từ bạn rồi đi sang nước ngoài, không liên lạc được. Trong trường hợp này, hành vi của người nước ngoài này sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Căn cứ vào phân tích trên, bạn có thể khởi kiện người nước ngoài này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tùy thuộc vào từng trường hợp.

Trường hợp của bạn là liên quan đến vấn đề tội phạm, do đó, bạn chỉ cần mang những giấy tờ liên quan đến việc làm ăn giữa bạn và người nước ngoài đó, và viết đơn tố cáo tội phạm đem đến cơ quan công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để tố giác tội phạm. Liên quan đến vấn đề tội phạm, nên vấn đề khởi tố vụ án hình sự phụ thuộc vào sự điều tra của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để điều tra vụ án này, liệu hành vi của người nước ngoài này và những người có liên quan là cô gái phiên dịch, người thanh toán tiền nhà hộ cho người này có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trình tự giải quyết vụ án hình sự được thực hiện như sau: 

Giai đoạn đầu tiên là khởi tố vụ án hình sự, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó. 

Giai đoạn thứ hai là điều tra vụ án hình sự, điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.    

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn truy tố, quyết định việc truy tố là giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách qua các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và trên cơ sở đó Viện kiểm sát ra quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.

Giai đoạn thứ tư là giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư là trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo.

Trường hợp nếu bạn không đồng ý với quyết định hay bản án của Tòa án thì bạn có thể kháng cáo bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật để được xét xử lại theo thủ tục xét xử phúc thẩm. Nếu kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà không đúng trình tự thủ tục, hoặc xét xử khoonng đúng thì sẽ xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục.         

Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hình sự.