Em đòi rất nhiều lần và còn nói chỉ cần lấy lại 5 triệu cho 5 triệu nhưng cô ấy vẫn không trả. Sau đó cô ấy chủ động nhắn tin bảo sẽ chỉ trả 3 triệu thì xong em đồng ý nhưng sau đó cô ấy lại thay đổi quyết định không trả và để tiền mua xe. Rất nhiều lần đòi nhưng không được hôm trước em sang phòng cô ấy chơi đòi tiền nhưng cô ấy không trả khi thấy thẻ atm của cô đấy em đã cầm.Do trước đây yêu nhau thỉnh thoảng em vẫn rút tiền thẻ atm của cô ấy nên biết mật khẩu atm, em đã rút 7 triệu( trong thẻ có 9 triệu). Rút xong e nhắn tin báo với cô ấy là đã rút tiền trong atm để lấy lại tiền đã cho vay và bảo nếu đồng ý sẽ chỉ lấy lại 5 triệu còn cho 5 triệu nhưng cô ấy không đồng ý. Cô ấy đi báo công an.Em có giấy biên lai đã chuyển 10 triệu và tin nhắn cô ấy quyết không trả tiền để chứng minh tiền trong thẻ atm 9 triệu kia là của mình chuyển sang.

Vậy trường hợp của em có bị phạt dân sự hay phạt tù không ạ ?

Mong luật sư tư vấn giúp em vấn đề này ạ. Em xin cảm ơn ạ!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sựcông ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất: Về vấn đề không trả nợ của bạn gái cũ của bạn.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn cho người yêu cũ vay số tiền 10 triệu đồng nhưng đến nay bạn gái đó không trả tiền bạn. Tuy nhiên, việc vay tiền này không được giao kết bằng hợp đồng. Nhưng hiện tại bạn vẫn giữ biên lai chuyển tiền 10 triệu đó, biên lai chuyển tiền gốc trong trường hợp này sẽ là chứng cứ để chứng minh việc bạn đã cho bạn gái kia vay số tiền 10 triệu đồng. 

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể khởi kiện ra tòa đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bạn gái bạn cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 33 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS để đòi lại số tiền đó.

Thứ hai: Về việc bạn tự ý rút tiền từ thẻ ATM của bạn gái bạn.

Theo điều 137 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung ngày 19/06/2009 thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

A) Hành hung để tẩu thoát;

B) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Các dấu hiệu của tội phạm

Chủ thể

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 137 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi.

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 137 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

 Khách thể

Quan hệ về tài sản (quân hệ sở hữu)

Nếu xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì có thể bị truy cứu them về tội phạm khác (tội cố ý giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…)

Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi chiếm đoạt tài sản công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng hoàn cảnh khác như thiên tai,, hỏa hoạn, chiến tranh… (khác với tội cướp giật ở chỗ không cần sự nhanh chóng)

- Hậu quả: người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.

 Mặt chủ quan của tội phạm

- Lỗi cố ý

- Mục đích chiếm đoạt tài sản

Nếu thỏa mãn các yếu tố cấu thành nêu trên, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác theo điều 137 BLHS.

Trong trường hợp này bạn tự ý rút tiền trong ATM của người khác là vi phạm quy định của pháp luật.Tuy nhiên, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì mục đích của bạn nhằm để gán nợ sang, chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bạn gái bạn.

Như vậy, khi bạn bị khởi kiện ra Tòa bạn cần chứng minh việc rút tiền trên không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, mà mục đích chính là để trừ nợ vì bạn gái bạn không trả tiền.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua EmailTư vấn pháp luật hình sự qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê