1. Tai nạn giao thông nhưng không biết ai đúng ai sai thì phải bồi thường như thế nào?

chào anh chị, em có một vài câu hỏi mong được giải đáp .khoảng 12h45 ngày 18/10 chồng em lái xe tải ben 2.5 tấn đi chở hàng khi đi gần đến một ngã tư cách khoảng 10m thì chồng em có bấm còi xe nhưng do vướng 1 bụi cây ven đường phía bên phải nên không giảm tốc độ và tiếp tục cho xe chạy. khi đi đến giữa ngã tư thì có một người đàn ông đi xe máy đi với tốc độ rất nhanh lao từ trong ngõ phía bên phải ra. chồng em đánh lái về phía bên trái đường đồng thời đạp phanh sau nhưng không kịp, người đàn ông đâm vào phía sau bánh lái bên phải của ô tô nhà em. 
Chồng em xuống xe thì thấy người đàn ông nằm ngay bên vệ đường máu mũi chảy xuống đường rất nhiều. Chồng em chạy lại và gọi "chú ơi" nhưng không thấy trả lời.Lúc đó có 1 người đàn ông đi ngay sau xe nhà em quay đầu xe và nói "để anh đi gọi cấp cứu" chồng em gọi với "để em bế lên xe chở đi luôn cho nhanh" nhưng người đàn ông đó không nói gì đi luôn. Cùng lúc đó có một người quen chồng em nhờ chú ấy đưa người đàn ông kia đi viện, còn chồng em bắt xe của một người không quen nhờ đưa vào công an phường để trình báo sự việc.Sau khi được đưa lên viện thì người đàn ông đó được kết luận là đã tử vong.Tại hiện trường công an đo được vết phanh xe ô tô là 17.5m, nồng độ cồn trong người chồng em bằng 0 , tốc độ của xe nhà em là 55km/h.Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường mới làm nhiều đá dăm nhỏ, mặt đường rộng 10m và không có bất cứ biển báo gì. Ngoài ra thì gia đình em không được biết thêm thông tin gì,gia đình em có thăm hỏi, xin lỗi và đồng thời đưa cho gia đình nạn nhân 15 triệu đồng để làm lễ mai táng.Trong thời gian diễn ra lễ mai táng gia đình em luôn có 3 người ở gia đình nạn nhân để chia buồn và giúp đỡ công việc. sau khi kết thúc lễ tang khoảng một một tuần gia đình em có lên để đặt vấn đề đền bù. gia đình nạn nhân có đòi tiền cấp dưỡng cho 3 cháu con của nạn nhân 1 cháu 7 tuổi ,1 cháu 4 tuổi ,1 cháu 2 tuổi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và cho mẹ của nạn nhân 53 tuổi và tiền bồi thường tinh thần tổng số tiền là 600 triệu nhưng do không biết ai đúng ai sai nên gia đình em phải chịu một nửa là 300 triệu. Do gia đình em không có điều kiện nên không đồng ý.
Vậy cho em hỏi trong trường hợp này chồng em sẽ bị xử như thế nào và gia đình em phải đền bù bao nhiêu tiền?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

 

 Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Bạn nói chồng bạn lái xe tải đã va chạm vào người đi xe gắn máy và hậu quả là người đi xe gắn máy thiệt mạng.Và chồng bạn đa tận tình đưa người bị nạn đi cấp cứu thăm hỏi đồng thời trình báo công an.Và sau khi đo đạc hiện trường công an  không biết là lỗi của ai,và chồng bạn thì cũng không vi phạm về quy định người tham gia giao thông .trong trường hợp này thì chồng bạn vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật dân sư

Theo Điều 610. Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Theo khoản 2.3 Điều 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thầm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng dẫn một số điều của bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Gia đình nạn nhân có đòi tiền cấp dưỡng cho 3 cháu con của nạn nhân 1 cháu 7 tuổi ,1 cháu 4 tuổi ,1 cháu 2 tuổi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi ?

Yêu cầu này của gia đình nạn nhân là đúng,

Trong trường hợp cụ thể của bạn, người bị thiệt hại có nghĩa vụ nuôi dưỡng với 3 người con chưa thành niên - chưa đủ 18 tuổi, do đó, 3 người con chưa thành niên của người bị thiệt hại là đối tượng được hưởng khoản tiền cấp dưỡng từ chồng của bạn

Chúng tôi không thể xác định cho bạn được mức cấp dưỡng mà chồng của bạn sẽ phải thực hiện với 3 người con chưa thành niên của người bị thiệt hại, bởi mức cấp dưỡng được xác định trên cơ sở là khả năng của chồng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Bản chất của cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Do đó, việc chồng của bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng không phải là thay người bị thiệt hại nuôi dưỡng con của họ, mà chỉ là việc đóng góp tiền bạc cùng những người trực tiếp nuôi dưỡng những người con chưa thành niên này mà thôi.

Cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006 khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường( tức là chồng của bạn), nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. Chồng của bạn phải đáp ứng được nhu cầu sống thiết yếu của anh ấy rồi sau đó mới thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. .

Tiền bồi thường tinh thần tổng số tiền là 600 triệu nhưng do không biết ai đúng ai sai nên gia đình em phải chịu một nửa là 300 triệu.?

Theo khoản 2Điều 610 Bộ luật dân sự thì tiền bồi thường sẽ do gia đình bạn và gia đình người bị thiệt hại thỏa thuận ,nếu không thỏa thuận được thì số tiền bồi thường tinh thần cho gia đình người bị thiệt hại không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nứơc quy định

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem ngay: Tư vấn xử lý trường hợp xe container gây tai nạn giao thông ?

2. Chạy quá tốc độ gây tai nạn giao thông và làm chết người ?

Kính chào Luật sư Minh Khuê ! Em có câu hỏi muốn hỏi Luật sư như thế này ạ. Vào ngày 3/9/2015 lúc 19h30, trên đường đang đi về nhà với tốc độ 80km/h (ngoài khu dân cư), em sinh năm 1995 đã có bằng lái xe và giấy tờ xe đầy đủ. Lúc đó trời tối nhá nhem và em bật đèn chiếu gần thì bất ngờ phát hiện 1 người đàn ông điểu khiển xe qua đương, không xi nhan, xe không đèn và không đội mũ bảo hiểm từ phía dưới nhà dân và qua đường cách đó 6m. Do đi nhanh và tình huống bất ngờ em đã thắng xe lại và đánh tay lái qua trái cắt ngang trước mặt chú đó, nhưng chú đó lao nhanh qua nên xe của em đã tông vào phía chân trái của chú đó làm chú ngã xuống đường. Người dân đã đưa đi cấp cứu. Em và người bạn đi cùng không bị sao cả và đã gọi gia đình lên bệnh viện để xem, nhưng vì không đội mũ bảo hiểm nên đã bị chấn thương sọ não và qua đời. Gia đình em đã lo chi phí bệnh viện và lo ma chay cho gia đình bên đó nhưng chưa thỏa thuận về việc bồi thường.
Vậy như vụ việc trên của em ai là người sai. Nếu em sai gia đình em phải bồi thường bao nhiêu? Chú đó 48 tuổi có 3 con, con lớn sinh năm 95, con giữa sinh năm 98 đang học lớp 11 và 1 em út học lớp 8. Nếu gia đình họ bãi nại thì em có phải đi tù không ạ ?? Nếu kiện thì em phải đi tù bao nhiêu năm ạ? 
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hại gọi : 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

* Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Các khoản bồi thường bao gồm:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. 

Theo đó, mức bồi thường do hai bên thoả thuận. Nếu không thể thoả thuận được thì tối đa là 36 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

* Trong trường hợp bên bị hại khởi kiện, cơ quan điều tra sẽ làm rõ vụ việc. Mặc dù bạn có lỗi là chạy xe quá tốc độ, tuy nhiên người bị hại cũng có lỗi. Bạn cũng đã có trách nhiệm cứu chữa, trả viện phí, mai táng, do đó cũng sẽ được giảm nhẹ tội danh. Bạn có thể chỉ bị xử phạt hành chính hoặc cải tạo không giam giữ. Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Truy cứu trách nhiệm hình sự và mức bồi thường đối với với hành vi gây tai nạn giao thông?

 

3. Tư vấn về việc bị tai nạn giao thông trên đường đi làm ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Trên đường đi làm tôi bị tai nạn giao thông do đi sai làn đường. Vậy tôi có được coi là tai nạn lao động không ? Tôi đi đúng giờ và đúng cung đường. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về việc bị tai nạn giao thông trên đường đi làm ?

Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê! Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:  

Tai nạn lao động được định nghĩa tại Tiết a Điểm 2.1 Mục 2 của Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Cụ thể:

2.1. Tai nạn lao động

a) Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn th­ương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể Người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động kể cả trong thời gian khác theo quy định của Bộ luật Lao động như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dư­ỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc.

Theo Tiết b Điểm 2.1 Mục 2 thì những trường hợp sau được coi là tai nạn lao động:
- Tai nạn xảy ra đối với Người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở vào thời gian và tại địa điểm hợp lý (trên tuyến đường đi và về thường xuyên hàng ngày).

- Tai nạn do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động. 

Như vậy, trường hợp của bạn là tai nạn lao trên đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc, bạn đi đúng giờ và đúng cung đường nên trường hợp của bạn được xem là tai nạn lao động theo Tiết b Điểm 2.1 Mục 2 Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

>> Xem ngay: Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?

4. Tư vấn về trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông có hậu quả nghiêm trọng ?

Em vượt bên phải xe ô tô đi cùng chiều rồi đụng vào cô gái 23 tuổi đi xe đạp sang đường, sau đó em bỏ chạy xe 500m sau mới dừng, nạn nhân bị thương nặng em phải thuê xe cho nạn nhân đi cấp cứu, đến viện làm các xét nghiệm chụp X-Quang thì nạn nhân bị vỡ sọ não, vỡ xương chậu, gãy chân trái, điều trị các vết thương tạm ổn đến nay đã được 3 tháng mà nạn nhân vẫn còn chưa phục hồi trí nhớ, em đã lo liệu tiên thuốc men chữa trị mọi thứ đã đưa cho gia đình là 120 triệu. Vậy em xin hỏi mức bồi thường tối đa là bao nhiêu theo thoả thuận, còn nếu đưa ra xét xử thì là bao nhiêu và phải đi cải tạo bao nhiêu năm ? 

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.V.B

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này người gây ra vụ tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại vì người đó đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải thuộc trường hợp quy định tại Điều 623.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 605 của Bộ luật Dân sự về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể mức bồi thường tối đa theo thỏa thuận hay Tòa án quy định là bao nhiêu, mà chỉ quy định mức bồi thường phải được dựa trên các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của người bị thiệt hại.

Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Mặt khác, Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSND-TANDTC xâm phạm trật tự an toàn giao thông có quy định về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt như sau:

"Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

2. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 3 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết hai người;

b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

3. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 204; khoản 3 các điều 202, 203, 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220, Điều 222, Điều 223; khoản 4 các điều 206, 207, 216, 218, 219 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết từ ba người trở lên;

b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;

g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên."

Như vậy, theo quy định của pháp luật trong trường hợp này nếu người bị tai nạn được giám định có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì người gây tại nạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Khoản 1 Điều 202 và sẽ bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 

>> Tham khảo ngay:  Xin tư vấn về tai nạn giao thông gây chấn thương sọ não

5. Tư vấn về đòi quyền lợi khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Kính chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn như sau: Cách đây hơn một tháng, chị gái tôi có tham gia giao thông, chị tôi đi trên đường một chiều và đã rẽ qua một đoạn đường tắt trên đường chỗ giải phân cách giữa hai làn đường ấy. Sau khi cua đầu xong chị tôi đã đi được khoảng 4 đến 5m vào đúng phần đường của mình thì bị một thanh niên 17 tuổi đi ngược chiều đâm vào. Bên CSGT bảo chị tôi là lỗi phụ 

Thanh niên đó chạy với tốc độ rất nhanh, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm và xe cũng là xe mượn của người khác. Tai nạn đó khiến chị tôi bị chấn thương sọ não phải điều chị gần 1 tháng mới tỉnh. 

-Giờ gia đình tôi muốn đưa đơn ra Tòa án thì phải cần những giấy tờ gì và bao lâu thì Tòa sẽ giải quyết?

-Bên gây ra tai nạn phải đền bù những chi phí gì cho chị tôi? Chị tôi tai nạn phải điều trị ở bệnh viện hết khoảng 40 triệu (chưa tính tiền sinh hoạt và những khoản nhỏ lẻ khác tại bệnh viện). 1 ngày 1 đêm đầu tiên phải có 4 người trông chị tôi, sau khi xuất viện bác sĩ bảo khoản hai năm sau chị tôi mới bình phục được. Chị tôi làm tiếp thị lương tháng từ khoảng 4.5 triệu đến 5.5 triệu/tháng. Chị tôi còn có hai người con nhỏ nữa. Hiện tại chị tôi chưa có giám định tỉ lệ thương tật nhưng mà theo tôi chấn thương sọ não hôn mê gần 1 tháng cũng được coi là nghiêm trọng. Vậy trương trường hợp này thanh niên kia có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: B.S

Tư vấn về đòi quyền lợi khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! vấn đề của bạn Luật Minh khuê xin được trả lời như sau;

Thông tin mà bạn cung cấp là chưa có mức thương tật cụ thể nên chúng tôi chưa thể kết luận là thanh niên kia sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009  có quy định:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Mà theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC thì:

Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến  Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Như vậy nếu thuộc vào trường hợp trên thì người thanh niên đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 BLHS. Ngoài ra người thanh niên đó còn có trách nhiệm bồi thường cho chị gái bạn theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2005  như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Trong trường hợp có kết luận của cơ quan công an về việc chị bạn cũng có lỗi thì theo quy định tại Điều 617 BLDS có quy định;

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Do đó trong trường hợp này người đó chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.

Trong tường hợp này gia đình bạn có thể làm đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự gửi tới cơ quan điều tra cơ quan công an cấp huyện để được giải quyết.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900 6162

 

6. Giải đáp thắc mắc về tai nạn giao thông ?

Kính gửi các luật sư công ty luật Minh Khuê,tôi có 1 thắc mắc mong các luật sư giải thích giúp tôi. Anh tôi bị tai nạn giao thông đã mất, khi tim hiểu chúng tôi được công an trả lời là anh tôi đi lấn làn và bị 1 xe máy đi ngược chiều đâm phải, người gây tai nạn cho anh tôi 17 tuổi không có bằng lái xe, và gia đình người gây tai nạn đã bồi thường cho gia đình tôi 28 triệu,chúng tôi muốn họ hỗ trợ hơn nhưng họ không đồng ý. Chúng tôi lên công an hỏi thì được họ giải thích. Do anh tôi đi sai làn nên anh tôi là người sai,anh tôi đã tử vong nên sẽ không khởi tố vụ án,còn người gây tai nạn dù chưa đủ 18 tuổi và không có bằng lái nhưng họ đi đúng phần đường nên họ sẽ không bị khởi tố,số tiền đền bù đó chỉ là chi phí " tình người với nhau" hỗ trợ ma chay thôi, vậy cho tôi hỏi công an giải thích và xử lý như vậy được chưa,trách nhiệm của gia đình gây tai nạn như vậy được chưa? Xin cám ơn quý công ty.

Giải đáp thắc mắc về tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

  “1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

   2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày 08/7/2006 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:

- Phải có thiệt hại xảy ra gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần;

- Phải có hành vi trái pháp luật: là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại;

- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

Như vậy, căn cứ tình huống bạn nêu và quy định của pháp luật, thấy rằng người lái xe và anh bạn cùng có lỗi trong việc xảy ra tai nạn. Do vậy, người lái xe có nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp này. 

Trong trường hợp người lái xe tải cũng có lỗi thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được xác định theo Điều 610 Bộ luật dân sự 2005:

“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.” 

Như vậy, nếu người lái xe trong tình huống bạn nêu có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì phải bồi thường các khoản như sau:

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không giải quyết yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ..;

- Một khoản tiền bù đắp về mặt tinh thần.


Do pháp luật không có quy định cụ thể về mức tiền được coi là hợp lý cho việc mai táng nên khi bồi thường thì do các bên tự thỏa thuận, và khi Tòa án giải quyết sẽ xác định theo thông lệ chung.

Bên cạnh chi phí mai táng, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh bạn còn được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì được tính bằng 36 tháng lương tối thiểu (1.150.000 đồng x 60).
Mức bồi thường hoàn toàn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện theo mẫu;

- Giấy báo tử; hóa đơn, giấy tờ về chi phí mai táng; giấy tờ của cơ quan công an liên quan đến vụ việc; …

- Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (chứng thực) của người khởi kiện;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện.

Do vậy, trong trường hợp trên, công an giải thích và xử lý như vậy là không đúng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê