Nhưng gia đình không biết bao nhiêu gam, công an cũng không thông báo là bao nhiêu gam bạn tôi bị bắt lúc 8h tối thì khoảng 9h công an xã mời gia đình lên làm việc thông báo bạn tôi bọ bắt sau đó 12h đêm công an huyện về khám nhà nhưng không có phát hiện gì. Hiện tại bạn tôi đag bị tam giam ở công an huyện muốn hỏi với tình trạng của bạn tôi như vậy thì sẽ bị phạt như nào? bạn tôi sẽ bị tạm giam bao lâu? tại sao gia đình không được công an thông báo là bạn tôi sẽ bị tạm giao bao lâu và hôm bị bắt trong người bạn tôi có tàng trữ bao nhiêu ma túy đá.

Hiện tại gia đình chỉ được tiếp tế cho bạn tôi là 10 ngày 1 lần và không được gặp. Gia đình hiện muốn làm đơn xin bảo lãnh tại ngoại cho bạn tôi được không nếu bảo lãnh thì có cần bắt buộc phải thế chấp gì không và các thủ tục làm đơn xin bảo lãnh như thế nào nộp đơn ở đâu ?

Tôi xin cảm ơn !

Người gửi: B.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về trường hợp bị bắt khi đang sử dụng ma túy đá ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP

Bộ Luật tố tụng hình sự 2004

2. Nội dung trả lời:

Giả sử bạn của bạn là A.

- Như thông tin bạn đã cung cấp,  khi bị khám người thì trong người A có tàng trữ ma túy đá. Như vậy, hành vi của A có thể cấu thành nên tội tàng trữ chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định cụ thể như sau: "Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm". 

Theo Mục 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP  có quy định:

"3.1. “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này"

Mục 3.6 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP  có quy định:

"3.6. Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống."

Như vậy, dù bạn của bạn không có ý định mua bán hay sản xuất ... ma túy đá thì đây vẫn là hành vi tàng trữ chất ma túy. A có thể bị xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các khung hình phạt khác nhau tại Điều Điều 194 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 phụ thuộc vào trọng lượng ma túy mà A cất giữ.

- Theo điều 120, Bộ Luật tố tụng hình sự thì thời hạn tạm giam để điều tra quy định như sau:

"1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định tại điểm a, b, c, d của khoản 2 điều này. Về thẩm quyền gia hạn được quy định tại khoản 3, 4, 5, 6 của điều 120".

Như vậy thời hạn tạm giam bị can để điều tra là có thời hạn, chứ không phải vô thời hạn và tối đa là bao lâu thì lại tuỳ thuộc vào trọng lượng ma túy & thái độ thành khẩn của A, kêt luận điều tra, phán quyết của tòa án.

- Trường hợp bị can đang bị tạm giam để phục vụ công tác điều tra, có hai phương án để bị can được tại ngoại: Bão lĩnh hoặc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo.

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam, được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 92. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác."

Như vậy, nếu đáp ứng được các điều kiện trên thì người nhận bão lĩnh có thể làm đơn gửi đến cơ quan điều tra để bảo lĩnh cho A tại ngoại. Áp dụng bảo lĩnh không cần thế chấp tài sản.

Việc cần đến tài sản sẽ được xét đến trong cách thức thứ 2:

"Điều 93. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

3. Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản.

4. Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt.

5. Trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theo quy định của pháp luật."

Việc đặt tiền hoặc tài sản để cho bị can tại ngoại được áp dụng phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 93 nêu trên.

Cụ thể trong Thông tư liên tịch 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực kể từ 15/01/2014 quy định cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm khi có đủ các điều kiện sau:

- Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ;

- Có căn cứ xác định, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

- Việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự;

- Bị can, bị cáo không thuộc trường hợp phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;  phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân….

Mức tiền được đặt để bảo đảm do Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án quyết định nhưng không 20 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 80 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng, 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng.

Đối với các trường hợp bị can, bị cáo là đối tượng đặc biệt như thuộc hộ nghèo; là thương binh, bệnh binh,  được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần… thì các cơ quan trên có thể quyết định mức tiền bảo đảm thấp hơn, nhưng không dưới 1/2 mức nêu trên.

Thông tin trên mang tính tham khảo, nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê