Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017;

2. Luật sư tư vấn:

Một là, Trách nhiệm do tàng trữ chất ma túy:

Khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy, cơ quan công an sẽ trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Tùy từng trường hợp mà anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên.

Thứ hai là tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Như bạn có đề cập đến số gram ma túy được tạm giữ ở đây là 1.125 gram heroin, như vậy mức khung hình phạt cho trường hợp của bạn có thể căn cứ theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017, cụ thể như sau:

"Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..."

Về tội danh này có thể phân tích cụ thể như sau:

  • Mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Hành vi khách quan: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vưòn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người,…) mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy (thời gian tràng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này).
  • Hậu quả: Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của tội này, chỉ cần tội phạm thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy được mô tả trong Điều 249 Bộ luật Hình sự là đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiệm nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo quy định của pháp luật. Hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
  • Mặt chủ quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tội phạm là người biết hoặc buộc phải biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
  • Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của các tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chủ thể thường. Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Thứ ba là, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Như bạn có cung cấp thông tin anh trai bạn từng đi bộ đội và đạt danh hiệu xuất sắc, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm v, Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 có quy định cụ thể như sau:

"Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

Theo đó, anh bạn có một tình tiết giảm nhẹ theo Điểm v Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 đó là người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác. Tuy nhiên, để được xem xét giảm mức hình phạt, người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhé theo quy định tại Điều 54 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017:

"Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án."

Như vậy, để được giảm án phạt thì anh bạn phải có thêm ít nhất một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017, ví dụ trường hợp Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (Điểm h Khoản 1 Điều 51), Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải (Điểm s Khoản 1 Điều 51) hoặc Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm (Điểm t Khoản 1 Điều 51).
Nếu thỏa mãn được những điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 54 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 thì anh của bạn có thể được giảm mức khung hình phạt xuống dưới 1 năm tù.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê