Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;

- Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13;

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 378 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

+ Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, bị giam, giữ. Cụ thể là hành vi "ra quyết định trả tự do" hoặc hành vi "tự ý trả tự do" cho người đang bị giam, giữ.

Ra quyết định trả tự do trái pháp luật người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam là hành vi của người có thẩm quyền trong việc huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao hoặc lạm quyền, cố ý ra quyết định huỷ bỏ việc bắt, tạm giữ, tạm giam, trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam hoặc thay thế tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác,...trái với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Việc ra quyết định huỷ bỏ lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam , trả lại tự do cho người bị tạm giam không có căn cứ mặc dù có đủ căn cứ để khởi tố và tạm giam đối với người bị tạm giữ nhưng lại trả tự do cho họ; không có đủ căn cứ để trả tự do nhưng lại trả tự do cho người bị tạm giam,... hoặc trái với quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: việc điều tra chưa hoàn tất nhưng vẫn trả tự do cho người bị tạm giam, tạo điều kiện cho họ bỏ trốn; trả tự do cho người bị tạm giam không đúng thẩm quyền hoặc thủ tục do pháp luật quy định,... các trường hợp trên đều bị coi là tha trái pháp luật người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam.

+ Tự ý trả tự do trái pháp luật cho người đang bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam là hành vi của người không có chức vụ, quyền hạn trong việc ra quyết định huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn, không có quyền quyết định việc trả tự do cho người đang chấp hành hình phạt tù,... nhưng do nhiệm vụ được giao, lại có những quyền hạn nhất định liên quan đến người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ đã tự ý tha trái pháp luật người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam.

Hành vi tự ý trả tự do trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam có thể là việc trả tự do cho người đó khi không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tự ý cho phép người đang chấp hành hình phạt tù được phép đi ra ngoài, đi khỏi nơi bắt giữ trái với chế độ thi hành án phạt tù,...

+ Các hành vi khác nhằm mục đích tha trái pháp luật người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam bao gồm các hành vi dưới hình thức này hay hình thức khác, nhằm đặt người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam ra ngoài sự kiểm soát, quản lý của pháp luật điều là hành vi phạm tội tha trái pháp luật người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam.

+ Người thực hiện hành vi này phải là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Ở mỗi loại hành vi phạm tội, chủ thể của tội phạm có những đặc điểm riêng biệt cụ thế như sau:

- Người thực hiện hành vi này có thể là những cán bộ có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp như: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Chánh án, phó Chánh án Toà án nhân dân các cấp; Trưởng công an, phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên.

- Đối với hành vi tự ý trả tự do trái pháp luật cho người đang bị giam: người thực hiện hành vi này có thể là những người không có thẩm quyền quyết định việc trả tự do cho người đang bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam nhưng có chức vụ, quyền hạn nhất định, có quan hệ đến người bị tạm giam, giữ.

- Người thực hiện hành vi này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Người được tha trái pháp luật bỏ trốn hoặc có hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

c) Người được tha trái pháp luật trả thù người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;

d) Tha trái pháp luật từ 02 người đến 05 người.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Tha trái pháp luật 06 người trở lên;

b) Người được tha trái pháp luật thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài ra, Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê